Hỏi - Đáp

TS. Nguyễn Chí Thành: 'Qui hoạch 100 năm TP.HCM phải nhìn rừng như một tài sản tự nhiên có giá trị lâu dài'

Hoàng Bắc 17/09/2026 16:50

Rừng TP.HCM trải dài từ Cần Giờ, Côn Đảo đến những cánh rừng nội địa, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng gắn với biển, đất ngập nước và không gian đô thị.

TS Nguyễn Chí Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu rừng và đất ngập nước. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
TS Nguyễn Chí Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu rừng và đất ngập nước. Ảnh: Nhân vật cung cấp

TS. Nguyễn Chí Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu rừng và đất ngập nước cho rằng, quy hoạch rừng trong tầm nhìn 100 năm cần đặt hệ sinh thái rừng vào cấu trúc đô thị đặc biệt, để mỗi cánh rừng vừa được bảo vệ, vừa phát huy giá trị về nguồn nước, đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

Rừng phải được nhìn như một phần của đô thị

- TP.HCM có hệ thống rừng trải rộng từ Côn Đảo, Cần Giờ đến Bình Châu - Phước Bửu, Núi Cậu - Dầu Tiếng. Theo ông, vấn đề lớn nhất khi đưa hệ thống rừng này vào quy hoạch 100 năm là gì?

- TS. Nguyễn Chí Thành: Rừng chiếm 10,74% diện tích TP.HCM, tương đương 72.720 ha trên tổng diện tích 677.259 ha, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Các khu rừng phân bố từ ven biển đến nội địa, từ hải đảo đến đất liền; trong đó có những khu đồng thời là Khu Ramsar, Khu Vườn di sản ASEAN và Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Khu Ramsar Vườn quốc gia Côn Đảo
Khu Ramsar ở Vườn quốc gia Côn Đảo. Ảnh: Nguyễn Chí Thành

Khi TP.HCM trở thành đô thị đặc biệt, các khu rừng này cũng trở thành rừng trong đô thị. Vì vậy, cần xác định chức năng, mục tiêu của từng khu rừng, gắn với kiến trúc, cảnh quan và không gian sinh thái.

Giữ được rừng là giữ lại một phần sự sống của thành phố

TS. Nguyễn Chí Thành

Quy hoạch 100 năm không chỉ đặt câu hỏi thành phố sẽ phát triển đến đâu, mà còn phải xác định những không gian tự nhiên nào cần được giữ lại lâu dài.

- Côn Đảo cho thấy rõ mối quan hệ giữa rừng, nguồn nước và phát triển. Vì sao ông đặc biệt lưu ý vấn đề này?

- TS Nguyễn Chí Thành: Vườn quốc gia Côn Đảo có 19.890 ha, gồm 5.890 ha rừng đặc dụng và 14.000 ha khu bảo tồn biển; đồng thời được công nhận là Khu Ramsar và Khu Vườn di sản ASEAN. Đây là hệ sinh thái đặc biệt với rừng, đất ngập nước ven biển và biển, cùng các giá trị về đa dạng sinh học và lịch sử.

Nhưng với Côn Đảo, nước là vấn đề rất quan trọng. Với nhu cầu sử dụng nước 150 lít/người/ngày-đêm, riêng đảo Côn Sơn cần khoảng 5.475.000 m³ nước/năm.

Khách quốc tế dạo chơi Côn Đảo ngắm biển và những cây bàng di sản. Ảnh: Hoàng Bắc.
Khách quốc tế dạo chơi Côn Đảo ngắm biển và những cây bàng di sản. Ảnh: Hoàng Bắc

Nguồn nước chủ yếu từ nước mưa thấm trong đất, được hệ thống rễ cây rừng điều tiết và cung cấp cho các hồ chứa. Theo các tài liệu khoa học, để có lượng nước nói trên, Côn Sơn cần khoảng 5.745 ha rừng tự nhiên, trong khi hiện chỉ còn 4.361,99 ha, thiếu khoảng 1.383 ha.

Vì vậy, nước phải được xem là ngưỡng để xác định quy mô dân số và sức chứa du lịch của Côn Đảo. Phát triển đến đâu phải tính được hệ sinh thái còn có thể đáp ứng đến đâu.

Cần Giờ: “Vùng đất chết” đến vùng đất của sự sống

- Cần Giờ từng là một “vùng đất chết”, nhưng sau nhiều thập niên phục hồi đã trở thành Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Ông nhìn nhận giá trị của Cần Giờ như thế nào trong quy hoạch 100 năm?

- TS Nguyễn Chí Thành: Rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích 34.809,68 ha, là rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển và là khu rừng ngập mặn có diện tích tập trung lớn nhất nước ta.

Rừng ngập mặn Cần Giờ
Rừng ngập mặn Cần Giờ. Ảnh: Nguyễn Chí Thành

Trong chiến tranh, vùng đất ngập nước ven biển Cần Giờ từng bị rải hàng triệu gallon chất khai quang, biến nơi đây thành “vùng đất chết”. Sau giải phóng miền Nam, chính quyền và nhân dân TP.HCM đã nỗ lực trồng lại rừng, từng bước phục hồi hệ sinh thái.

Từ một vùng đất chết, Cần Giờ trở thành vùng đất của sự sống. Năm 2000, UNESCO công nhận nơi đây là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Năm 2005, Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về “Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ”.

Đây là một bằng chứng về khả năng phục hồi đất ngập nước ven biển bằng phương pháp trồng lại rừng, đồng thời cho thấy giá trị của rừng đối với sinh kế và phát triển lâu dài.

- Mô hình quản lí rừng ở Cần Giờ có thể tiếp tục phát huy như thế nào?

- TS. Nguyễn Chí Thành: Phương thức khoán cho các hộ dân bảo vệ rừng ở Cần Giờ, với mức khoán quy định tại Nghị quyết 25/2024/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 của HĐND TP.HCM, là một mô hình hiệu quả trong quản lí rừng ngập mặn.

TP.HCM cũng đã phê duyệt Phương án quản lí rừng bền vững rừng phòng hộ Cần Giờ đến năm 2030, trong đó có nhiệm vụ xây dựng công viên rừng ngập mặn phục vụ tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.

Để mỗi cánh rừng sống đúng với giá trị của nó

TS. Nguyễn Chí Thành

Công viên rừng cần được đặt trong mối liên hệ với quy hoạch kinh tế, xã hội và hạ tầng Cần Giờ. Đồng thời, cần xây dựng mô hình quản lí, sử dụng khôn khéo rừng ngập mặn và đất ngập nước ven biển theo các tiêu chí của Công ước Ramsar, kết nối với các khu rừng ngập mặn trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Mỗi khu rừng cần một mục tiêu 100 năm

- Nếu Cần Giờ là câu chuyện phục hồi, Bình Châu - Phước Bửu và Núi Cậu - Dầu Tiếng lại đặt ra những yêu cầu gì trong quy hoạch?

- TS Nguyễn Chí Thành: Bình Châu - Phước Bửu được xác lập là khu rừng cấm từ năm 1978, tiền thân của hệ thống rừng đặc dụng ngày nay, với diện tích hơn 10.000 ha. Đây là khu rừng cây họ Dầu đặc trưng của lưu vực sông Đồng Nai, với 13 loài cây họ Dầu, nằm trên vùng đất cát ven biển khá hiếm ở nước ta.

Rừng phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng
Rừng phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng. Ảnh: Nguyễn Chí Thành

Tôi đề xuất nghiên cứu quy hoạch nơi đây thành Công viên rừng cây họ Dầu của đô thị đặc biệt TP.HCM, vừa bảo tồn đa dạng sinh học, vừa phục vụ tham quan, học tập, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái. Có thể nghiên cứu xây dựng một bảo tàng rừng cây họ Dầu đại diện cho vùng Đông Nam bộ.

Đối với Núi Cậu - Dầu Tiếng, chức năng lại khác. Hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước khoảng 270 km², là hồ chứa nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam và có vai trò đặc biệt quan trọng trong cung cấp nguồn nước cho TP.HCM. Khu rừng tự nhiên trên Núi Cậu, khoảng 1.500 ha, là rừng phòng hộ đầu nguồn. Vì vậy, chức năng phòng hộ phải đặt lên hàng đầu; du lịch chỉ nên là hoạt động kết hợp.

- Như vậy, có thể áp dụng một mô hình quản lí chung cho toàn bộ hệ thống rừng của TP.HCM không?

- TS Nguyễn Chí Thành: Cần tiếp cận theo địa lý - sinh thái. Mỗi khu rừng được hình thành trên những vùng địa lý đặc thù, vì vậy cần xác định mục tiêu 100 năm cho từng khu rừng phù hợp với điều kiện địa lý - sinh thái và mục tiêu phát triển chung của thành phố.

Có những cánh rừng, một khi mất đi, không thể xây lại bằng thời gian

TS. Nguyễn Chí Thành

Một khu rừng tự nhiên cây gỗ lớn như Côn Đảo, Củ Chi, Dầu Tiếng, Bình Châu... nếu mất đi thì hàng trăm năm sau cũng không thể phục hồi như cũ, trong khi xây dựng lại một đô thị có thể chỉ mất vài chục năm.

Vì vậy, quy hoạch 100 năm phải nhìn rừng như một tài sản tự nhiên có giá trị lâu dài, không thể dễ dàng thay thế bằng các công trình xây dựng.

- Ông đề xuất duy trì diện tích và tỷ lệ che phủ rừng 10,74% trong 100 năm tới. Vì sao đây không đơn thuần là một con số về diện tích?

- TS Nguyễn Chí Thành: Cần duy trì diện tích và tỷ lệ che phủ rừng ở mức 10,74% để bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường và thể hiện kết quả bền vững của phát triển kinh tế.

Muốn vậy, quy hoạch phải tính đến chức năng của từng khu rừng, đồng thời gắn quản lí rừng với cảnh quan, nguồn nước, đa dạng sinh học và không gian đô thị.

- Bảo vệ rừng cần nguồn lực lớn. Làm thế nào để vừa bảo tồn rừng, vừa phát huy giá trị kinh tế?

- TS. Nguyễn Chí Thành: Nhà nước vẫn phải đầu tư ngân sách cho quản lí, bảo vệ rừng. Nghị định 91/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 đã có các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong môi trường rừng nhằm phát huy giá trị kinh tế, nhưng kết quả vẫn chưa như kỳ vọng.

Rừng ngập mặn Cần Giờ cần xây dựng mô hình quản lí, sử dụng khôn khéo rừng ngập mặn và đất ngập nước ven biển theo các tiêu chí của Công ước Ramsar. Ảnh: Nguyễn Chí Thành
Rừng ngập mặn Cần Giờ cần xây dựng mô hình quản lí, sử dụng khôn khéo rừng ngập mặn và đất ngập nước ven biển theo các tiêu chí của Công ước Ramsar. Ảnh: Nguyễn Chí Thành

TP.HCM có hơn 7.000 ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đang được Nhà nước đầu tư ngân sách cho công tác quản lí. Vì vậy, Luật Đô thị đặc biệt cần được nghiên cứu để tạo cơ chế phù hợp cho các ban quản lí rừng, tổ chức chủ rừng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, qua đó phát huy giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng và giảm gánh nặng cho ngân sách, nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu bảo tồn.

- Với tầm nhìn 100 năm, ông muốn quy hoạch rừng của TP.HCM để lại điều gì cho các thế hệ sau?

- TS. Nguyễn Chí Thành: Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị đã chỉ đạo bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, các khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ, vườn quốc gia trên địa bàn TP.HCM. Theo tôi, đây phải là một trong những nguyên tắc quan trọng khi xây dựng quy hoạch 100 năm.

TP.HCM có những khu rừng mang giá trị sinh thái, cảnh quan, nguồn nước, đa dạng sinh học và cả lịch sử - văn hóa mà không thể tạo dựng lại trong thời gian ngắn. Cần Giờ là ví dụ rõ nhất: từ một vùng đất bị hủy hoại, con người đã mất nhiều thập niên để phục hồi thành một hệ sinh thái có giá trị quốc tế.

Quy hoạch 100 năm, vì thế, cần trả lời một câu hỏi rất căn bản: TP.HCM sẽ phát triển lớn đến đâu, nhưng vẫn giữ được bao nhiêu những giá trị tự nhiên không thể xây lại?

Hoàng Bắc