Nhân học trong thời đại số: Khi con người không chỉ là dữ liệu
Nhân học thường gợi nhớ đến những chuyến đi xa, các cộng đồng dân tộc thiểu số và những phong tục khác lạ. Nhưng trong thời đại của dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, cách tiếp cận con người từ đời sống và các mối quan hệ xã hội không hề mất đi giá trị. Trái lại, nó càng trở nên cần thiết.
Khi công nghệ đi vào đời sống
Một người nông dân dùng điện thoại để xem giá nông sản. Một công nhân đặt thức ăn qua ứng dụng sau ca làm. Một phụ nữ vay tiền trên mạng để trang trải chi phí gia đình. Nhìn bề ngoài, đó là những thao tác cá nhân với công nghệ. Nhưng phía sau mỗi lần chạm vào màn hình là cả một hoàn cảnh sống, với thu nhập, quan hệ gia đình, niềm tin, nỗi lo và những dự tính cho tương lai.

Dữ liệu có thể ghi lại thời điểm một người mở ứng dụng, món hàng họ lựa chọn và số tiền đã thanh toán. Dữ liệu khó cho biết vì sao họ quyết định như vậy, đã cân nhắc điều gì và phải chấp nhận những hệ quả nào. Muốn hiểu những điều ấy, người nghiên cứu phải trở lại với con người trong chính hoàn cảnh sống của họ. Ở đó, mỗi quyết định đều liên quan đến gia đình, cộng đồng, thị trường và các thiết chế quản lý.
Nhà nhân học ngày nay không chỉ làm việc ở vùng núi hay trong những ngôi làng xa xôi. Họ có mặt tại bệnh viện, trường học, khu công nghiệp, khu nhà trọ, sàn thương mại điện tử và các cộng đồng trên mạng. Khi công nghệ đi sâu vào đời sống, không gian nghiên cứu của nhân học cũng mở rộng. Bất cứ nơi nào có con người, có khác biệt trong cách sống và cách hiểu, nơi đó đều có những câu hỏi cần đến nhân học.

Từ đi xa đến học cách sống cùng
Nhân học đã trải qua một quá trình thay đổi lâu dài. Từ chỗ các học giả chủ yếu ngồi trong thư viện, dựa vào báo cáo của nhà truyền giáo, viên chức thuộc địa hay người đi thám hiểm, các nhà nhân học bắt đầu trực tiếp đến địa bàn, học ngôn ngữ và sống trong cộng đồng. Điền dã dài hạn và quan sát tham dự dần trở thành nét đặc trưng của ngành.
Giá trị của điền dã không chỉ nằm ở việc thu thập thêm thông tin. Khi sống cùng cộng đồng, nhà nghiên cứu phải thay đổi vị thế của mình. Họ học cách lắng nghe, quan sát và chấp nhận rằng nhận định ban đầu có thể chưa đúng. Có những điều chỉ được nhận ra sau nhiều lần trở lại, qua một bữa cơm, một cuộc trò chuyện bên đường hoặc một sự im lặng mà bảng hỏi không thể ghi nhận.
Nhân học đặt tập quán vào hoàn cảnh sống cụ thể để hiểu vì sao điều đó có ý nghĩa đối với người trong cuộc. Cách tiếp cận này giúp người nghiên cứu hạn chế việc dùng chuẩn mực của mình để phán xét một cộng đồng khác. Nó cũng nhắc rằng không có cộng đồng nào hoàn toàn đồng nhất. Trong cùng một làng, một nhóm tộc người hay một gia đình vẫn có những khác biệt về giới, tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, tài sản và vị thế xã hội.
Khái niệm “mô tả dày” trong nhân học hướng người nghiên cứu đi xa hơn việc kể lại một sự kiện. Một hành vi chỉ có thể được hiểu khi đặt trong lịch sử và mạng lưới ý nghĩa bao quanh nó. Chẳng hạn, một cái lu chứa nước mưa ở miền Tây không chỉ là vật dụng gia đình. Qua đó, người ta có thể nhìn thấy tác động của hạn hán và xâm nhập mặn, khả năng tiếp cận nước sạch, điều kiện kinh tế và cả việc ai là người phải lo nước cho gia đình.
Công nghệ không đứng ngoài văn hóa
Sự phát triển nhanh của công nghệ dễ tạo ra suy nghĩ rằng máy móc và dữ liệu có thể giải quyết hầu hết vấn đề của xã hội. Nhưng các hệ thống trí tuệ nhân tạo không được tạo ra trong khoảng trống. Chúng sử dụng dữ liệu của một xã hội vốn đã có sẵn những định kiến, chênh lệch và bất bình đẳng. Việc chọn dữ liệu nào, phân loại ra sao và tối ưu cho mục tiêu gì đều do con người quyết định.
Công nghệ chỉ thực sự tồn tại thông qua cách con người sử dụng nó. Cùng một ứng dụng nhưng người trẻ và người cao tuổi có thể tiếp cận rất khác nhau. Một thủ tục công được đưa lên môi trường số có thể thuận tiện với người này, nhưng lại khiến người khác phải nhờ con cháu hoặc người trung gian. Một nền tảng cho vay có thể giúp một gia đình giải quyết nhu cầu trước mắt, đồng thời cũng có thể đẩy họ vào vòng xoáy nợ nần nếu các điều khoản thiếu minh bạch.
Trí tuệ nhân tạo có thể tổng hợp hàng triệu văn bản và đưa ra dự báo trong thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, một kết quả hợp lý về mặt thống kê chưa chắc đã phù hợp với hoàn cảnh của từng con người. Một hệ thống có thể ước tính khả năng trả nợ, nhưng không thể tự biết khoản vay ấy đang giúp một gia đình vượt qua khó khăn hay làm họ lệ thuộc hơn. Nó cũng khó nhận ra cảm giác xấu hổ, trách nhiệm với người thân hoặc sức ép phải giữ thể diện trong cộng đồng.
Đó là khoảng trống mà nghiên cứu nhân học có thể góp phần làm rõ. Sự hiện diện tại thực địa, những cuộc trò chuyện kéo dài và hiểu biết về hoàn cảnh xã hội giúp nhà nghiên cứu nhận ra điều nằm ngoài các chỉ số. Công nghệ càng phát triển, xã hội càng cần những cách tiếp cận giúp kiểm tra xem các mô hình và thuật toán đang bỏ sót ai, gây bất lợi cho ai và phục vụ lợi ích của ai.
Một cách nhìn hữu ích cho nhiều nghề
Không phải ai học nhân học cũng trở thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Nhưng cách tiếp cận của ngành có thể được vận dụng trong nhiều lĩnh vực. Khả năng lắng nghe giúp người làm y tế, giáo dục, truyền thông hay quản lý nhận ra khoảng cách giữa điều người ta nói và điều họ thực sự làm. Đằng sau việc một người không tuân thủ hướng dẫn y tế hay một học sinh bỏ học có thể là những nguyên nhân mà báo cáo hành chính không thể hiện hết.
Nhân học còn giúp lý giải vì sao một sản phẩm công nghệ hoặc một chính sách được thiết kế tốt vẫn gặp khó khăn khi đi vào thực tế. Một chương trình có thể hợp lý trên văn bản nhưng không phù hợp với nhịp sống, quan hệ gia đình hoặc cách tổ chức cộng đồng tại địa phương. Nếu không hiểu những điều đó, người thực hiện rất dễ cho rằng nguyên nhân thất bại nằm ở sự thiếu hiểu biết hoặc thiếu hợp tác của người dân.
Làm việc theo cách của nhân học cũng đòi hỏi người nghiên cứu thường xuyên xem lại vị thế và định kiến của chính mình. Điều mình cho là thuận tiện chưa chắc thuận tiện với người khác. Điều được coi là tiến bộ ở nơi này có thể làm đứt gãy một quan hệ xã hội quan trọng ở nơi khác. Sự phản tư ấy giúp nhà nghiên cứu thận trọng hơn khi giải thích đời sống và đề xuất giải pháp.
Điền dã ngày nay cũng không còn giới hạn trong một địa phương. Con người di chuyển giữa quê và phố, giữa nơi làm việc và gia đình, giữa không gian trực tiếp và các nền tảng trực tuyến. Nhà nhân học vì thế phải theo dõi các mối liên hệ qua nhiều địa điểm và nhiều môi trường khác nhau. Dù cách thức nghiên cứu thay đổi, yêu cầu cốt lõi vẫn là dành đủ thời gian để hiểu con người trong các mối quan hệ thực tế của họ.
Giữ con người ở vị trí trung tâm
Việt Nam đang trải qua những thay đổi sâu sắc do đô thị hóa, dịch chuyển lao động, biến đổi khí hậu và chuyển đổi số. Những biến đổi lớn ấy không tồn tại ở đâu xa. Chúng đi vào từng bữa ăn, khoản nợ, việc học của con cái, quan hệ giữa các thế hệ và dự tính tương lai của mỗi gia đình.
Một tuyến đường mới không chỉ làm thay đổi việc đi lại. Nó còn tác động đến giá đất, sinh kế, quan hệ láng giềng và ký ức về nơi chốn. Một chương trình chuyển đổi số không chỉ đưa thủ tục lên mạng. Nó có thể tạo ra một nhóm người thường xuyên phải nhờ người khác thao tác thay. Một dự án phát triển không chỉ tạo thêm việc làm và thu nhập. Nó cũng có thể làm thay đổi cách cộng đồng sử dụng đất, duy trì quan hệ thân tộc và hình dung về một cuộc sống tốt.

Xã hội vì thế cần những người có khả năng đi từ chính sách đến đời sống, từ những con số tổng hợp đến hoàn cảnh cụ thể. Nhân học không thay thế kinh tế học, công nghệ hay quản lý. Ngành học này bổ sung một cách nhìn để các quyết định phát triển gần hơn với con người và phù hợp hơn với thực tế xã hội.
Thế giới công nghệ luôn hướng đến tốc độ, khả năng dự báo và sự tối ưu. Nhưng con người còn sống bằng ký ức, tình nghĩa, lòng tự trọng, bổn phận và niềm hy vọng. Những điều khó đo đếm ấy lại có ảnh hưởng rất lớn đến việc công nghệ được tiếp nhận ra sao và chính sách có đi vào đời sống hay không.
Không để con người bị thu nhỏ thành một tập hợp dữ liệu không chỉ là yêu cầu của nghiên cứu nhân học. Đó còn là ranh giới đạo đức mà mọi dự án công nghệ và phát triển cần tôn trọng.





