TP.HCM trước bài toán quy hoạch 100 năm: Hướng tới đô thị biển sinh thái và bền vững
Quy hoạch TP.HCM trong tầm nhìn 100 năm đang đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó kinh tế biển xanh, cảng biển - logistics, du lịch sinh thái và các giải pháp dựa vào thiên nhiên được xem là những cấu phần quan trọng để hình thành một đô thị biển có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong nghiên cứu “Quy hoạch TP.HCM dưới góc độ kinh tế biển xanh: Tầm nhìn chiến lược 100 năm hướng tới đô thị biển sinh thái và bền vững”, nhóm tác giả TS. Lê Xuân Sinh (Học viện Khoa học và Công nghệ - VAST; Viện Nghiên cứu Môi trường Biển xanh - Gmeri), TS. Đào Thị Anh Tuyết (Học viện Khoa học và Công nghệ - VAST), TS. Đinh Văn Huy và ThS. Nguyễn Văn Bách (Viện Nghiên cứu Môi trường Biển xanh - Gmeri) cho rằng kinh tế biển xanh cần được đặt trong cấu trúc quy hoạch dài hạn của thành phố, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái, công bằng xã hội và nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Từ khai thác biển sang kinh tế biển xanh
Theo nghiên cứu, trong khoảng một thập kỉ trở lại đây, tư duy phát triển kinh tế biển trên thế giới đang chuyển từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang kinh tế biển xanh. Ngân hàng Thế giới định nghĩa kinh tế biển xanh là việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đại dương cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện sinh kế và việc làm, đồng thời bảo vệ sức khỏe hệ sinh thái đại dương.

Mô hình này được cấu thành từ ba trụ cột gồm phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và duy trì bền vững môi trường. Các lĩnh vực được đề cập gồm khai thác, nuôi trồng thủy sản bền vững; du lịch sinh thái và dịch vụ đới bờ; vận tải biển và logistics xanh; năng lượng tái tạo ngoài khơi; công nghệ sinh học biển và các dịch vụ hệ sinh thái đại dương, trong đó có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon xanh của rừng ngập mặn, rong và cỏ biển.
Nghiên cứu dẫn Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018, trong đó định hướng phát triển kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sức chịu tải của môi trường biển.
Kinh nghiệm quốc tế cũng được nhóm tác giả sử dụng để phân tích hướng phát triển không gian biển của TP.HCM. Rotterdam được đề cập với mô hình cảng biển gắn mạng lưới giao thông đa phương thức, hướng tới phát thải carbon bằng 0 vào năm 2050 và phát triển hydrogen xanh, điện xanh cho hoạt động hàng hải.
Tại Hoa Kỳ, trọng tâm được đặt vào phát triển kinh tế biển, nâng cao năng lực quản trị, tăng sức chịu tải của hệ sinh thái và huy động nguồn lực xã hội thông qua mô hình đối tác công - tư. Công nghệ hàng hải bền vững, năng lượng tái tạo và các giải pháp kiểm soát tác động đến môi trường biển cũng được triển khai.
Trong khi đó, Singapore được dẫn chứng với mô hình kết hợp giữa cảng biển và du lịch biển thông qua quản lý tổng hợp vùng bờ. Cảng Tuas được phát triển theo hướng tự động hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nền tảng số, trong khi các khu vực như Sentosa, cụm đảo phía Nam và Sisters’ Islands được tổ chức theo hướng du lịch sinh thái.
Từ những kinh nghiệm này, nghiên cứu xác định bốn yếu tố có tính quyết định đối với quy hoạch kinh tế biển xanh gồm cơ chế, chính sách; sự tham gia của khu vực tư nhân; công nghệ số trong giám sát tài nguyên, môi trường và cơ chế điều phối liên vùng.
Đối với TP.HCM, nghiên cứu cho rằng không gian phát triển mới sau sáp nhập mở ra điều kiện để hình thành một siêu vùng đô thị - công nghiệp - logistics, với sự liên kết giữa cảng biển, sân bay, trung tâm sản xuất, thương mại, tài chính và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 được xác định là một trong những cơ sở quan trọng cho tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố đến năm 2075. Trong cấu trúc đó, TP.HCM được định hướng trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia, phát triển các lĩnh vực hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo, du lịch và đô thị biển.
“Triết lý quy hoạch không gian biển của thành phố hướng tới việc chuyển đổi toàn diện từ tư duy ‘ứng phó, chế ngự thiên nhiên’ sang tư duy ‘cộng sinh với biển’”, nghiên cứu nêu.
Cảng biển, logistics và du lịch trong cấu trúc kinh tế biển
Theo nghiên cứu, hai trong năm trụ cột kinh tế của TP.HCM gắn trực tiếp với không gian biển là logistics gắn với cảng biển, cảng hàng không và khu thương mại tự do thế hệ mới; cùng du lịch và công nghiệp văn hóa.
Trong đó, hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải và Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ tạo nền tảng cho việc phát triển chuỗi logistics hàng hải. Cùng với sân bay quốc tế Long Thành, các đầu mối này có thể hình thành trục giao thương đa phương thức giữa đường biển, hàng không và mạng lưới giao thông nội địa.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm nghẽn về kết nối hạ tầng đất liền - biển. Quy mô dân số lớn, áp lực giao thông và sự phân mảnh của các quy hoạch trước sáp nhập có thể làm giảm hiệu quả kết nối giữa các trung tâm sản xuất với hệ thống cảng.
Một vấn đề khác là hệ quả của quá trình phát triển dựa nhiều vào hạ tầng cứng. Việc đô thị hóa mặt biển, cứng hóa đới bờ bằng đê, kè bê tông trong thời gian dài có thể làm giảm khả năng tương tác tự nhiên giữa biển và đất liền, ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch, điều hòa vi khí hậu và trữ nước của hệ sinh thái ven biển.
Về định hướng, nghiên cứu đề xuất Cái Mép - Thị Vải và Cần Giờ được phát triển theo mô hình cảng xanh, cảng thông minh. Hệ thống cảng cần từng bước sử dụng năng lượng tái tạo, điện hóa thiết bị, phát triển nhiên liệu xanh, ứng dụng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo trong điều phối hoạt động.
Cùng với đó là phát triển hệ thống kho bãi xanh, đường sắt chuyên dụng và vận tải đa phương thức nhằm giảm phụ thuộc vào đường bộ. Hàng hóa từ các cảng có thể được kết nối với các trung tâm công nghiệp, công nghệ cao ở khu vực Bình Dương cũ, Đồng Nai và Tây Ninh.
Nghiên cứu cũng đặt vấn đề kiểm soát rủi ro sinh học hàng hải khi lưu lượng tàu quốc tế gia tăng. Việc xử lí nước dằn tàu, kiểm soát sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại và nguy cơ sinh vật ngoại lai được đề xuất tích hợp vào quy hoạch không gian biển.
Đối với khu thương mại tự do, nghiên cứu đề xuất hình thành FTZ tại Cần Giờ với quy mô khoảng 1.000 - 2.000ha, kết nối với FTZ Cái Mép Hạ khoảng 3.800ha. Định hướng không chỉ dừng ở chức năng logistics mà mở rộng sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu và phát triển, lắp ráp công nghệ cao, thương mại số và tài chính quốc tế.
Ở chiều ngược lại, du lịch biển được định hướng chuyển từ khai thác đại trà sang du lịch sinh thái, du lịch có trách nhiệm và các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, biển Côn Đảo cùng các giá trị văn hóa biển được xem là nền tảng để hình thành các sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn.
Quy hoạch đô thị biển gắn với khả năng thích ứng
Trong tầm nhìn 100 năm, nghiên cứu đặt vấn đề không mở rộng không gian đô thị hướng biển bằng mọi giá mà phải bảo đảm ranh giới tự nhiên và khả năng vận hành của hệ sinh thái.
Các khu đô thị sinh thái ven biển được đề xuất áp dụng kiến trúc thích ứng với nước biển dâng, trong đó có mô hình nhà sàn hiện đại với tầng thấp dành cho giao thông và không gian thoát nước, còn không gian sinh hoạt và thương mại được bố trí từ tầng cao hơn.

Cùng với đó là bảo vệ các vùng lõi sinh thái gồm Vườn quốc gia Côn Đảo, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và hệ thống bãi triều, bãi tắm tự nhiên ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu. Các khu vực này được đề xuất quản lí như một hệ thống liên kết nhằm duy trì chức năng sinh thái và khả năng bảo vệ tự nhiên cho đô thị.
Một giải pháp khác được đề cập là “tịnh tiến mặt phố và tái thiết ô phố xanh” trong quá trình nâng cấp các trục giao thông. Với nhóm hộ mặt tiền, ranh giới đất có thể được điều chỉnh vào phía trong thay vì giải tỏa toàn bộ; nhóm hộ trong hẻm có thể được tái định cư hoặc tái phân lô tại chỗ. Quỹ đất phía sau được tổ chức lại theo các ô phố đồng bộ hạ tầng.
Không gian giao thông sau mở rộng được đề xuất kết hợp với vỉa hè thấm nước, điểm thu nước mưa và các không gian xanh quy mô nhỏ, qua đó đồng thời xử lí yêu cầu về hạ tầng, sinh kế và cảnh quan.
Đối với bài toán ngập và biến đổi khí hậu, nghiên cứu đề xuất tăng cường các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống đê kè bê tông. Mô hình đô thị bọt biển được đề cập với mạng lưới vùng đất ngập nước kiến tạo, hồ điều hòa và thực vật thủy sinh được tích hợp vào cấu trúc đô thị.
Các hệ thống này có thể đảm nhiệm chức năng trữ và điều tiết nước, đồng thời hỗ trợ xử lí sinh học nguồn nước trước khi chảy ra các cửa sông ven biển.
“Quy hoạch 100 năm đòi hỏi một cuộc tái cấu trúc toàn diện về động lực tăng trưởng”, nghiên cứu xác định, trong đó hệ sinh thái cảng biển - logistics và du lịch biển được đặt cùng với bảo tồn sinh thái, công nghệ xanh và các giải pháp thích ứng khí hậu.
Theo hướng tiếp cận này, kinh tế biển xanh không được tách khỏi quy hoạch đô thị mà trở thành một cấu phần của toàn bộ không gian phát triển. Cảng biển, logistics, khu thương mại tự do, du lịch, công nghiệp văn hóa, hệ sinh thái rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước và hạ tầng đô thị được đặt trong cùng một cấu trúc quản lí và phát triển dài hạn.

