Văn hóa - Đời sống

TS Phạm Văn Luân: Hiện đại hóa chợ không thể xóa sổ bản sắc

Tiểu Vũ • 29/09/2026 13:50

Chợ truyền thống không chỉ có quầy sạp và hoạt động mua bán. Theo TS Phạm Văn Luân, khi cải tạo hoặc di dời chợ, nếu chỉ chú ý đến công trình, nhiều giá trị về sinh kế, ký ức cộng đồng và quan hệ xã hội có thể bị mất đi.

ts-pham-van-luan-hien-dai-hoa-cho-khong-the-xoa-so-ban-sac.png

TS Phạm Văn Luân là chuyên gia nghiên cứu văn hóa, hiện công tác tại Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM. Nghiên cứu của ông tập trung vào quản lý văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đặc biệt là mối quan hệ giữa di sản với đời sống cộng đồng trong bối cảnh xã hội đương đại.

Trong cách tiếp cận đó, di sản không chỉ được nhìn nhận qua những giá trị đã được định danh hay những hiện vật cần bảo tồn, mà còn hiện diện trong không gian sống, tập quán, ký ức và các mối quan hệ xã hội được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ. Chợ truyền thống là một trong những không gian như vậy. Quá trình hình thành và tồn tại của chợ gắn với sinh kế, sự quần tụ dân cư, văn hóa ứng xử và những biến đổi của đời sống đô thị, nông thôn.

Từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa và di sản, TS Phạm Văn Luân dành riêng cho Một Thế Giới cuộc trao đổi về quá trình hình thành văn hóa chợ, những giá trị được tích lũy qua nhiều thế hệ, sự thay đổi trong tập quán mua bán, cũng như cách bảo tồn chợ truyền thống khi không gian sống và nhu cầu của cộng đồng đang thay đổi.

TS Phạm Văn Luân - Chuyên gia nghiên cứu văn hóa Trường ĐH Văn hóa TP.HCM. Ảnh: Tiểu Vũ
TS Phạm Văn Luân - Chuyên gia nghiên cứu văn hóa Trường ĐH Văn hóa TP.HCM. Ảnh: Tiểu Vũ

Chợ không chỉ phục vụ cộng đồng mà còn tạo nên cộng đồng

Thưa ông, từ những tư liệu hoặc trường hợp ông từng nghiên cứu, câu chuyện nào cho thấy rõ nhất cách một ngôi chợ hình thành và góp phần tạo dựng cộng đồng dân cư xung quanh?

– TS Phạm Văn Luân: Theo tôi, chợ truyền thống không đơn thuần là không gian giao thương, buôn bán mà còn là nơi thể hiện dấu ấn của thiết chế xã hội, lưu giữ hồn cốt văn hóa đô thị và nông thôn Việt Nam.

Từ những trường hợp tôi nghiên cứu như câu chuyện về ông chủ chợ Ba Tri, ông Già Ba Tri, ông chủ chợ Băng Tra, hay trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, dù không đưa cái chợ vào tác phẩm của mình, Cụ Đồ cũng đã ít nhiều miêu tả cảnh mua bán ở chợ quê, hình ảnh không gian mưu sinh bên đường như quán xá, bến sông gắn liền với những con người nghĩa hiệp, đôn hậu, hiện thân cho nếp sống và đạo lý làm người truyền thống của cha ông ta.

Tất cả phần nào phản ánh cách một ngôi chợ hình thành theo quy luật: “Có chợ, có dân, có phố, có phường”. Chợ hiếm khi mọc lên một cách ngẫu nhiên mà luôn gắn với các yếu tố địa văn hóa và nhu cầu sinh kế tự nhiên của cư dân.

Chợ xưa Việt Nam hình thành theo cái thế “thuận thiên”, “nhất cận thị, nhị cận giang”. Hầu hết các ngôi chợ cổ đều hình thành tại các ngã ba sông, bến phà, cửa biển hoặc giao lộ đường bộ lớn. Ví dụ điển hình là chợ Ba Tri xưa bên một con rạch hay chợ Băng Tra bên dòng sông Cổ Chiên. Dòng nước và đường giao thông không chỉ chuyên chở hàng hóa mà còn là huyết mạch kết nối các luồng di cư, mở ra cuộc sống thương hồ.

Khi người đi buôn, kẻ bán tụ tập tại một điểm nghỉ chân hoặc giao thương cố định, nhu cầu về nhà cửa, kho bãi, quán xá xuất hiện xung quanh. Chợ trở thành một thành tố quan trọng tạo nên xã hội, hình thành mạng lưới tiểu thương, tạo ra chuỗi cung ứng nông, hải sản từ vùng miệt vườn lên đô thị.

Về văn hóa và tâm lý, chợ là nơi giao thoa văn hóa giữa các vùng miền. Xung quanh chợ, các thiết chế văn hóa tín ngưỡng như đình làng, miếu thờ Thổ thần, Ngũ hành, Quan Thánh nhanh chóng được lập nên để che chở tinh thần cho cộng đồng thương hồ, cư dân mới đến.

Chợ tạo ra một “không gian công cộng” đầu tiên, nơi các chuẩn mực ứng xử, lòng tin cộng đồng như mua bán chịu, “bán anh em xa, mua láng giềng gần” được định hình và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Có thể nói, ngôi chợ không chỉ phục vụ cộng đồng dân cư có sẵn mà chính chợ còn là động lực quy tụ, sinh sôi và định hình bản sắc cho cộng đồng cư dân quần tụ xung quanh nó.

tieuvpsdegn.png
TS Phạm Văn Luân nói về bảo tồn di sản văn hóa. Ảnh: Tiểu Vũ Design

Trong lịch sử, những quy định hoặc quy ước nào từng được dùng để bảo đảm sự công bằng trong mua bán ở chợ? Ông có thể dẫn một trường hợp cụ thể và nguồn tư liệu để độc giả tìm hiểu thêm?

– TS Phạm Văn Luân: Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, bên cạnh “luật vua” thì “phép, lệ làng”, thông qua hương ước và các bản lệ chợ riêng biệt, đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự và sự công bằng tại chợ.

Có thể nhìn từ câu chuyện về ông Thái Hữu Kiểm, chủ chợ Ba Tri, ông Già Ba Tri, Hương Cả làng An Bình Đông. Ông lập chợ không vì lợi ích cá nhân mà vì cái ăn, cái mặc và sinh kế của bá tánh. Ông là người hào sảng, trọng nghĩa tình, luôn đau đáu với trách nhiệm cộng đồng. Uất ức trước sự bất công và nhũng nhiễu của quan lại địa phương, dù tuổi đã cao, ông quyết định thực hiện chuyến đi lịch sử, đi bộ ba tháng ròng rã, vượt hàng ngàn cây số từ Bến Tre ra kinh đô Huế để trực tiếp dâng đơn thư, kêu oan lên vua triều đình.

Câu chuyện có tính chất giai thoại này giúp tôi đưa ra nhận định khái quát rằng chợ không chỉ là nơi mua bán tự do mà còn là một thiết chế xã hội chịu sự giám sát của chủ chợ, thường gọi là hành hào, hương chức hoặc cai tổng do làng cắt cử. Các quy định nhằm hạn chế gian lận, bảo vệ người tiêu dùng và giữ gìn đạo đức thương mại, trong đó coi trọng chữ tín.

Việc đong, đo, cân, đếm phải sử dụng các dụng cụ như cân, đấu, thưng đã được làng kiểm định và đóng dấu chuẩn. Các hành vi gian lận như “cân điêu, đong thiếu”, dùng hàng giả, hàng kém chất lượng bị nghiêm cấm.

Giá cả cũng phải được niêm yết hoặc thỏa thuận công khai, tránh chèn ép giá hoặc hùa nhau nâng giá đối với thương hồ phương xa hay người mua lần đầu. Không gian buôn bán được phân định rõ ràng. Mỗi mặt hàng như hàng xáo, hàng thịt, hàng vải, đồ gốm có lô, sạp hoặc khoảnh đất quy định, không được lấn chiếm lẫn nhau gây mất trật tự công cộng.

cho.jpg
TS Phạm Văn Luân (trái) trước chợ Giồng Cổ Chi, ngôi chợ nông thôn lâu đời gắn với quá trình khai hoang, mở đất trên vùng giồng cát cổ ở Ba Tri, Bến Tre trước đây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: NVCC

Không thể nhìn một hành vi rồi phán xét cả “nếp nhà”

Theo ông, những biểu hiện nào cho thấy ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến cách mua bán? Cần thận trọng điều gì khi từ một hành vi ở chợ nhận xét về nếp nhà của một người?

– TS Phạm Văn Luân: Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chợ không chỉ là nơi giao thương kinh tế mà còn là “mặt tiền” phản ánh văn hóa ứng xử, đạo đức và nề nếp gia phong của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.

Giáo dục gia đình thường in dấu qua lời ăn tiếng nói và thái độ ứng xử. Một người được giáo dục kỹ lưỡng thường giữ thái độ hòa nhã, lịch thiệp; dù mua hay không mua cũng nói lời cảm ơn, từ tốn, không dùng lời lẽ thô lỗ, cộc cằn với người bán hoặc những người xung quanh.

Một biểu hiện khác là sự sòng phẳng, trọng chữ “tín”. Cách một người trả giá lịch sự, không kỳ kèo ác ý, hoặc người bán không nói thách quá cao, không bán hàng gian dối chính là sự phản chiếu của tính trung thực và lòng tự trọng được rèn giũa từ gia đình.

Trọng chữ “tín” cũng là triết lý kinh doanh lâu đời của người Việt, lấy chữ tín làm đầu và coi trọng cái tình hơn cái lợi. Mua bán không chỉ là một giao dịch trao đổi kinh tế mà còn là nơi thể hiện nhân cách, sự sòng phẳng, đạo đức và tình người trong đời sống cộng đồng.

Lối ứng xử tương thân tương ái cũng thể hiện ở cách người mua sẵn sàng chia sẻ, không chèn ép những người buôn bán nhỏ lẻ, những gánh hàng rong của người già yếu, thậm chí mua đắt hơn một chút hoặc không lấy lại tiền thừa lẻ. Đó có thể là biểu hiện của lòng trắc ẩn và sự bao dung được truyền dạy từ nếp nhà.

Tuy nhiên, khi nhìn nhận một con người thông qua hành vi tại chợ, chúng ta cần hết sức thận trọng để tránh cách nhìn phiến diện.

Trước hết là áp lực hoàn cảnh tức thời. Chợ truyền thống là một không gian náo nhiệt, đôi khi có sự chen lấn, mệt mỏi hoặc bức bối do thời tiết, tiếng ồn. Một khoảnh khắc cáu gắt, một lời nói bực dọc nhất thời có thể chỉ là phản ứng trước áp lực ngoại cảnh, không đại diện cho bản chất hoặc toàn bộ nề nếp gia phong của họ.

Thứ hai là khác biệt văn hóa vùng miền và phong cách giao tiếp. Mỗi vùng miền có một “tính khí” và phong cách giao tiếp riêng, chẳng hạn sự bộc trực, phóng khoáng kiểu Nam Bộ hay sự kín đáo, từ tốn ở một số vùng quê Bắc Bộ. Nếu dùng lăng kính của một vùng để đánh giá phong cách của vùng khác thì rất dễ dẫn đến hiểu lầm.

Cuối cùng, không nên đánh đồng cá nhân với gia đình. Hành vi của một cá nhân trong một tình huống thương mại đơn lẻ không thể thay thế cho bức tranh toàn cảnh về giáo dục gia đình. Nếp nhà là một quá trình tích lũy lâu dài, không thể chỉ đo lường bằng một vài phiên chợ.

Từ trái sang: Nhà báo Cù Mai Công, TS Bùi Việt Thành, TS Phạm Văn Luân, TS Nguyễn Thị Trúc Bạch trong buổi tọa đàm
Từ trái sang: Nhà báo Cù Mai Công, TS Bùi Việt Thành, TS Phạm Văn Luân, TS Nguyễn Thị Trúc Bạch trong buổi tọa đàm "Tiền nhân lập chợ". Ảnh: Tiểu Vũ

Văn hóa chợ có những tập quán đáng gìn giữ, nhưng cũng có cách ứng xử cần thay đổi. Theo ông, nên dựa vào tiêu chí nào để lựa chọn, nhất là khi các thế hệ có quan điểm khác nhau về mặc cả, lời mời chào hay cách giao tiếp?

– TS Phạm Văn Luân: Theo tôi, có thể dựa vào ba tiêu chí căn bản.

Trước hết là tính nhân văn và sự tôn trọng lẫn nhau. Cần gìn giữ sự ấm áp, tình cảm “tối lửa tắt đèn có nhau”, sự mộc mạc và chân thành trong giao tiếp giữa người với người. Những câu chào hỏi, thăm sức khỏe, sự sẻ chia giữa người bán và người mua vượt qua ranh giới của một giao dịch kinh tế đơn thuần.

Cái cần thay đổi là những cách ứng xử có thể gây phiền hà hoặc thiếu tinh tế như nói thách quá mức, chèo kéo quá đà hoặc dùng từ ngữ phán xét cá nhân. Thế hệ trẻ ngày nay thường quen với sự minh bạch, nhanh gọn và tôn trọng không gian riêng tư nên các tập quán có tính áp đặt hoặc ép mua, ép bán cần được điều chỉnh để tạo sự thoải mái cho khách hàng.

Tiêu chí thứ hai là văn minh thương mại và hiệu quả kinh tế. Cần giữ tinh thần “thuận mua vừa bán”, sự linh hoạt và uy tín trong cam kết chất lượng sản phẩm, tức hàng thật, giá trị thật.

Trong khi đó, văn hóa mặc cả gay gắt, kéo dài đôi khi làm mất thời gian và tạo ra căng thẳng không cần thiết. Thế hệ lớn tuổi có thể xem mặc cả là một nghệ thuật giao tiếp, một nét sinh hoạt gắn với tình làng nghĩa xóm, còn giới trẻ có xu hướng thích giá niêm yết rõ ràng hoặc thanh toán không tiền mặt để tiết kiệm thời gian.

Sự điều chỉnh không có nghĩa xóa bỏ hoàn toàn việc mặc cả mà là dịch chuyển dần sang minh bạch về giá và chuẩn hóa chất lượng dịch vụ để thích ứng với thị trường hiện đại.

Tiêu chí thứ ba là khả năng thích ứng với không gian đô thị hiện đại. Cái cần gìn giữ là hồn cốt, bản sắc văn hóa bản địa và đời sống đặc trưng của chợ truyền thống, nơi lưu giữ ký ức cộng đồng mà các siêu thị, trung tâm thương mại, nhất là thương mại điện tử không thể thay thế.

Cái cần thay đổi là vấn đề vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, trật tự không gian và tác phong buôn bán. Một ngôi chợ muốn tồn tại và phát triển bên cạnh các mô hình hiện đại buộc phải tự đổi mới từ bên trong: sạch sẽ hơn, văn minh hơn, ứng dụng công nghệ số nhưng vẫn giữ được cái “tình” truyền thống.

Sự khác nhau về quan điểm giữa các thế hệ không nhất thiết là xung đột tiêu cực mà có thể trở thành động lực tự điều chỉnh của văn hóa. Thế hệ đi trước giữ phần hồn như tình người, sự gắn kết; thế hệ trẻ đem đến yêu cầu về văn minh, tiện lợi, minh bạch. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống và tư duy hiện đại là một trong những yếu tố giúp chợ truyền thống tiếp tục tồn tại trong đời sống đương đại.

TS Phạm Văn Luân tặng sách cho người nhà của Ông Già Ba Tri. Ảnh: NVCC
TS Phạm Văn Luân tặng sách cho người nhà của Ông Già Ba Tri. Ảnh: NVCC

Hiện đại hóa chợ không thể chỉ tính số quầy sạp

Khi cải tạo hoặc di dời một ngôi chợ, điều gì dễ bị bỏ sót nếu chỉ chú ý đến công trình và số lượng quầy sạp? Làm sao nhận diện, đánh giá những giá trị ấy trước khi quyết định?

– TS Phạm Văn Luân: Nếu quá trình cải tạo hay di dời chợ chỉ được nhìn nhận dưới góc độ vật chất, như xây nhà lồng kiên cố hơn, kẻ vạch chia lô khoa học hơn, chúng ta rất dễ đánh mất linh hồn của ngôi chợ.

Một trong những giá trị phi vật chất dễ bị bỏ sót nhất là mạng lưới sinh kế và không gian xã hội của cộng đồng vỉa hè, tiểu thương. Chợ truyền thống không chỉ nằm trong bốn bức tường nhà lồng mà tỏa ra các không gian phụ cận, từ hàng quán quanh cổng đến những gánh hàng rong quanh năm đậu ở một góc quen. Khi di dời, các tiểu thương nhỏ vốn không đủ tiền thuê sạp mới có thể mất sinh kế và cộng đồng khách hàng quen thuộc cũng bị đứt gãy kết nối.

Thứ hai là ký ức tập thể và “bản đồ cảm xúc” của đô thị. Mỗi ngôi chợ là một kho lưu trữ ký ức vô hình của người dân, có thể là nơi ăn sáng từ thuở nhỏ, nơi hẹn hò hoặc nơi gắn liền với bao thăng trầm của một khu phố. Việc di dời thô bạo đôi khi có thể biến một trung tâm thương mại mới thành một “cái xác không hồn”, vắng khách vì thiếu đi cái “tình” và thói quen gắn bó lâu đời.

Thứ ba là hệ sinh thái quan hệ dựa trên lòng tin. Mối quan hệ mua bán ở chợ truyền thống không chỉ là tiền và hàng mà còn dựa trên sự tín nhiệm lâu năm như mua thiếu, gửi đồ, dặn dò chăm sóc. Khi đập đi xây lại hoặc buộc tiểu thương di chuyển sang một vị trí mới, hệ sinh thái lòng tin này rất khó gầy dựng lại từ đầu.

Để không rơi vào cái bẫy “hiện đại hóa bằng cách xóa sổ bản sắc”, các nhà quản lý và tư vấn văn hóa cần tiến hành khảo sát nhân học xã hội. Thay vì chỉ kiểm đếm số lượng sạp, cần phỏng vấn sâu, ghi lại lịch sử truyền miệng, thói quen tiêu dùng, mối quan hệ xã hội của tiểu thương và người dân quanh vùng để hiểu rõ ảnh hưởng của ngôi chợ đối với đời sống cộng đồng.

Cần lập “bản đồ di sản văn hóa phi vật thể” của chợ, xác định những góc chợ mang tính biểu tượng, những gánh hàng lâu đời, những tập quán sinh hoạt đặc thù gắn với không gian ấy để tìm phương án bảo lưu hoặc tích hợp vào thiết kế mới.

Đặc biệt, phải xác định cộng đồng là trung tâm trong quy hoạch. Mọi quyết định cải tạo hay di dời cần có sự tham gia đối thoại của chính tiểu thương và cư dân, những người gắn bó trực tiếp với không gian chợ, nhằm tìm tiếng nói chung giữa nhu cầu phát triển hạ tầng và giữ gìn hồn cốt văn hóa chợ xưa.

1790562102101_8489758732207515891_8489758732207515891_b23d72c21a6c43df6ad150974eb6f5de.jpg
TS Phạm Văn Luân bên mộ Ông Già Ba Tri. Ảnh: NVCC

Từ kinh nghiệm nghiên cứu quản lý văn hóa và di sản, ông cho rằng tiểu thương, người mua và cư dân quanh chợ cần được tham gia vào những quyết định nào để việc bảo tồn gắn với nhu cầu sống và làm nghề của họ? Có trường hợp thực tế nào đáng tham khảo?

– TS Phạm Văn Luân: Để việc bảo tồn và đổi mới chợ truyền thống không mang tính áp đặt từ trên xuống, tiểu thương, người mua và cư dân xung quanh cần có tiếng nói và quyền tham gia vào những quyết định quan trọng.

Trước hết là phương án thiết kế không gian và bố trí ngành hàng. Ai hiểu rõ nhất chỗ nào ngập nước khi mưa lớn, hướng gió nào thoáng mát hay quầy hàng nào cần gần cửa ra vào? Chính là tiểu thương. Họ cần tham gia quyết định cách bố trí quầy sạp sao cho phù hợp với thói quen kinh doanh, thuận tiện cho người mua và giữ được sự sầm uất tự nhiên.

Tiếp theo là chính sách tài chính, phí chợ và hỗ trợ sinh kế trong giai đoạn chuyển giao. Khi cải tạo, xây mới hoặc di dời tạm thời, chi phí thuê sạp, thuế chợ và các khoản phí dịch vụ là vấn đề sống còn đối với tiểu thương nhỏ lẻ. Họ cần được tham gia bàn bạc để đưa ra mức giá hợp lý, tránh tình trạng tiểu thương cũ phải “bỏ chợ” vì gánh nặng tài chính.

Cộng đồng gồm ban quản lý, tiểu thương và đại diện cư dân cũng cần cùng xây dựng quy chế hoạt động, từ xử lý rác thải, an toàn thực phẩm đến giữ gìn nét văn hóa giao tiếp đặc trưng như sự niềm nở và chữ tín.

Có thể tham khảo kinh nghiệm từ các chợ truyền thống kết hợp du lịch văn hóa như chợ nổi ở Thái Lan hoặc các khu chợ lâu đời tại Nhật Bản, Đài Loan. Ở những nơi này, chính quyền phối hợp với hiệp hội tiểu thương nâng cấp cơ sở hạ tầng như vệ sinh, an toàn, sử dụng mã QR thanh toán nhưng vẫn bảo lưu kiến trúc và cách thức buôn bán truyền thống. Người dân địa phương được tham gia vào các mô hình quản lý chợ, giúp ngôi chợ trở thành một “di sản sống”, vừa phục vụ sinh kế vừa mang giá trị văn hóa, du lịch.

Tại Việt Nam, ở một số địa phương khi chỉnh trang các chợ truyền thống, chẳng hạn chợ khu vực tại Bến Tre cũ như chợ Cầu Bà Mụ, nay là chợ Lạc Hồng, những nơi cơ quan quản lý tổ chức đối thoại công khai, lắng nghe tâm tư của tiểu thương từ khâu lập bản vẽ đến phương án sắp xếp lô sạp thì quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi hơn, giữ chân được tiểu thương cũ và lượng khách hàng thân thiết.

Ngược lại, những nơi làm vội vàng, áp đặt mệnh lệnh hành chính thường dẫn đến tình trạng chợ mới xây xong nhưng vắng khách, tiểu thương khiếu kiện hoặc bỏ sạp vì phương án không sát nhu cầu thực tế.

TS Phạm Văn Luân với Nghệ nhân dân gian Hiền Thu. Ảnh: Tiểu Vũ
TS Phạm Văn Luân với Nghệ nhân dân gian Hiền Thu. Ảnh: Tiểu Vũ

Tư liệu về chợ cần được đưa trở lại đời sống

Theo ông, cần làm gì để những câu chuyện và tư liệu về văn hóa chợ tiếp tục được sử dụng trong giáo dục, sinh hoạt cộng đồng? Ai có thể đứng ra thực hiện và duy trì hoạt động ấy?

– TS Phạm Văn Luân: Theo tôi, trước tiên cần chuyển hóa các tư liệu và câu chuyện thành những sản phẩm có tính lan tỏa và khả năng ứng dụng trong đời sống.

Cần số hóa và biên soạn học liệu mở, chuyển đổi các tư liệu, hình ảnh, bản đồ cổ, thước phim tài liệu, các bài nghiên cứu và chia sẻ thành một kho dữ liệu số, có thể là website, cổng thông tin trực tuyến hoặc triển lãm ảo 360 độ. Từ đó, trường học, nhà nghiên cứu và người dân có thể dễ dàng truy cập miễn phí.

Một hướng khác là xây dựng các “góc di sản học đường” và chương trình giáo dục trải nghiệm. Có thể phối hợp với ngành giáo dục đưa những câu chuyện về văn hóa chợ, nếp nhà, lịch sử hình thành đô thị, chợ xưa vào hoạt động ngoại khóa, môn lịch sử địa phương hoặc giáo dục công dân.

Thay vì chỉ tiếp nhận lý thuyết, học sinh có thể tham gia những dự án nhỏ như “Khám phá chợ truyền thống quê hương”, phỏng vấn tiểu thương lớn tuổi để hiểu về đạo đức kinh doanh và sự gắn kết cộng đồng.

Các tư liệu cũng có thể được chắt lọc thành những tập sách ảnh, cẩm nang ngắn gọn, dễ đọc để phát hành tại thư viện công cộng, nhà văn hóa phường, xã hoặc các không gian sinh hoạt cộng đồng; đồng thời tổ chức các tọa đàm chuyên đề lưu động.

Để duy trì lâu dài, không thể chỉ dựa vào một cơ quan hay cá nhân đơn lẻ mà cần sự chung tay theo mô hình “đồng quản trị” giữa Nhà nước, chuyên gia, tổ chức văn hóa và cộng đồng.

Các cơ quan lưu trữ và quản lý văn hóa có thể giữ vai trò bảo quản nguồn tư liệu, cung cấp tài liệu chính thống và kết nối mạng lưới các thiết chế văn hóa.

Các cơ quan báo chí, truyền thông có thể đưa những câu chuyện từ nguồn tư liệu ra đời sống đại chúng thông qua các tuyến bài chuyên sâu, podcast, video phóng sự ngắn theo từng chủ đề, qua đó duy trì sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Ngành giáo dục và các trường học là môi trường để biến tư liệu lịch sử thành kiến thức sống động cho học sinh, sinh viên. Các tổ chức xã hội, hội quán, không gian sáng tạo, câu lạc bộ văn hóa của giới trẻ hoặc ban quản lý các chợ truyền thống có thể đưa những nội dung này vào sinh hoạt cộng đồng thường xuyên, chẳng hạn tổ chức các phiên chợ văn hóa định kỳ hoặc những buổi giao lưu giữa các thế hệ tiểu thương.

Cảm ơn những chia sẻ của TS Phạm Văn Luân!

Tiểu Vũ