Kinh tế

Vì sao còn quá ít công ty Việt cung ứng phụ tùng, kinh kiện cho các 'ông lớn'?

Đình Long • 30/09/2026 16:07

Hiện có trên 7.000 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện theo phạm vi thống kê rộng; trong đó khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp có khả năng trực tiếp cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp và các tập đoàn đa quốc gia

Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được xem là nền tảng của một nền công nghiệp có khả năng tự chủ. Tuy nhiên, sau nhiều năm phát triển, số lượng doanh nghiệp tham gia vẫn còn hạn chế, năng lực công nghệ chưa đồng đều và sự tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu còn chưa sâu.

Từ các báo cáo, tham luận tại Hội thảo khoa học “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Phú Thọ và Bộ Công Thương tổ chức ngày 30/9 có thể thấy bài toán của CNHT Việt Nam hiện nay không còn đơn thuần là “có bao nhiêu doanh nghiệp”, mà là làm thế nào để hình thành được những nhà cung ứng có năng lực công nghệ, quản trị và liên kết đủ mạnh để bước lên các nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị.

dai-bieu tham gia
Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã có nền móng nhưng chưa đủ chiều sâu

Theo Bộ Công Thương, trên hệ thống cơ sở dữ liệu của Bộ hiện có trên 7.000 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện theo phạm vi thống kê rộng; trong đó khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp có khả năng trực tiếp cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp và các tập đoàn đa quốc gia. Đáng chú ý, doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 30% trong nhóm này.

CNHT hiện chiếm khoảng 5% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo, tạo việc làm cho hơn 600.000 lao động và đóng góp doanh thu khoảng 11% của toàn ngành. Khoảng 88% doanh nghiệp CNHT là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi chỉ khoảng 17% tiếp cận được các chương trình hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước.

Ở một số ngành, năng lực cung ứng trong nước đã có những bước tiến. Ngành điện tử có khoảng 1.248 doanh nghiệp CNHT, trong đó khoảng 30% đã tham gia các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành ô tô khoảng 15-20% đối với xe con; cơ khí chế tạo khoảng 25-30%; trong khi ngành xe máy đạt khoảng 85-95%. Dệt may, da giày có tỷ lệ nội địa hóa khoảng 50-55%.

Tuy nhiên, những con số này cũng cho thấy một khoảng cách lớn. Việt Nam đã hình thành được một nền tảng doanh nghiệp CNHT, nhưng số doanh nghiệp có thể cung ứng trực tiếp cho các nhà lắp ráp, tập đoàn đa quốc gia vẫn còn ít so với nhu cầu của một nền công nghiệp quy mô lớn.

PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Chủ tịch VASI, nhìn CNHT ở một góc độ căn bản hơn: đây chính là phần “lõi” của nền sản xuất công nghiệp, nơi tạo ra các linh kiện, chi tiết và cụm chi tiết. Theo số liệu VASI, hiện có trên 2.000 doanh nghiệp CNHT và hơn 1.000 doanh nghiệp trong hệ sinh thái, mạng lưới của VASI. Hai cách thống kê này có phạm vi khác nhau, nhưng cùng cho thấy một thực tế: lực lượng doanh nghiệp đã hình thành, song năng lực để tham gia sâu vào chuỗi giá trị vẫn còn hạn chế.

Theo ông Tuất, từ năm 2021 đến nay, số doanh nghiệp CNHT tăng trưởng trên 10%/năm. Dù vậy, phần lớn doanh nghiệp vẫn mới dừng ở việc sản xuất từng chi tiết riêng lẻ, nhiều sản phẩm không phải linh kiện cốt lõi hoặc động cơ; số doanh nghiệp có khả năng đảm nhận những cụm linh kiện, bộ phận có giá trị cao còn ít.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cho rằng CNHT có vai trò nền tảng đối với quá trình công nghiệp hóa, nâng cao tính tự chủ và tham gia chuỗi giá trị. Điểm quan trọng là Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế chi phí và mở rộng công suất, mà cần chuyển sang nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo.

hoi nghi 4
Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm công nghiệp chủ lực tỉnh Phú Thọ

Thực tế, một số sản phẩm CNHT trong nước đã được phát triển như thép đặc chủng, thuốc hàn, hợp kim cứng WC-Co, vải chống cháy, dệt kháng khuẩn, vật liệu đồng xốp truyền nhiệt, cao su kỹ thuật, sơn phủ chống cháy… Đây là những tín hiệu cho thấy nếu gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Vì sao CNHT vẫn yếu?

Khoảng cách lớn nhất hiện nay nằm ở năng lực công nghệ, vốn, thị trường và khả năng liên kết.

Bộ Công Thương chỉ ra những hạn chế như khoảng cách lớn giữa sản xuất sản phẩm cuối cùng với năng lực CNHT chiều sâu; phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu; năng lực thiết kế, nghiên cứu - phát triển và sở hữu trí tuệ còn thấp; thiếu doanh nghiệp đầu đàn trong nước; thiếu hệ thống kiểm thử, chứng nhận và nhân lực kỹ thuật chất lượng cao.

PGS.TS. Phan Đăng Tuất bổ sung nhiều yếu tố từ thực tế doanh nghiệp. Chi phí vốn trong nước cao, giá thuê đất cao, máy móc thiết bị đắt, chi phí logistics lớn trong khi biên lợi nhuận thấp và sức ép về giá cao. Doanh nghiệp CNHT cũng thiếu điều kiện đầu tư cho R&D, thiếu liên kết với nhau và chưa hình thành được những cụm liên kết đủ mạnh.

Trong khi đó, các nhà cung ứng FDI thường có lợi thế về chi phí vốn, chính sách ưu đãi, hệ sinh thái sản xuất và năng lực R&D. Đây là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh để trở thành nhà cung ứng ở các tầng cao hơn.

Một rào cản khác là yêu cầu kỹ thuật. Để trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp phải đáp ứng những tiêu chuẩn, quy trình kiểm soát chất lượng và chứng nhận nghiêm ngặt, trong khi các tiêu chuẩn này có thể thay đổi theo công nghệ và thị trường.

GS.TS. Mạc Quốc Anh, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp có máy móc hay không, mà ở khả năng đáp ứng đúng yêu cầu của người mua. Một chương trình hỗ trợ hiệu quả phải bắt đầu từ nhu cầu của doanh nghiệp dẫn dắt hoặc người mua, xác định khoảng cách của nhà cung ứng rồi hỗ trợ đúng điểm thiếu.

Điều này rất quan trọng bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không thiếu một thứ duy nhất. Có doanh nghiệp thiếu thiết bị, doanh nghiệp thiếu vốn lưu động, doanh nghiệp thiếu năng lực kiểm thử, có doanh nghiệp lại vướng ở thiết kế, khuôn mẫu, chi phí làm mẫu hoặc điều kiện thanh toán.

Ông Mạc Quốc Anh cũng nhấn mạnh cần phân biệt nguồn vốn dành cho việc hình thành năng lực mới, chẳng hạn đầu tư thiết bị, R&D, thử nghiệm, với vốn lưu động để doanh nghiệp thực hiện đơn hàng. Hai nhu cầu này khác nhau và cần cách hỗ trợ khác nhau.

Từ góc độ khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận: thay vì chỉ hỏi “sản phẩm nào cần nội địa hóa”, cần đặt câu hỏi “năng lực công nghệ nào cần được xây dựng”. Muốn vậy phải có bản đồ công nghệ theo từng ngành, xác định rõ doanh nghiệp đang thiếu công nghệ, thiết bị, tiêu chuẩn hay năng lực nghiên cứu ở đâu.

Một nguyên nhân khác là sự liên kết còn yếu. Nếu doanh nghiệp đầu đàn, nhà cung ứng, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức hỗ trợ hoạt động rời rạc, rất khó tạo ra một hệ sinh thái đủ sức nâng cấp năng lực doanh nghiệp.

Không chỉ thêm doanh nghiệp, mà phải tạo ra nhà cung ứng mạnh

Từ những hạn chế trên, hướng đi quan trọng là chuyển trọng tâm từ tăng số lượng sang nâng chất lượng và năng lực của doanh nghiệp CNHT.

Bộ Công Thương đề xuất tập trung theo chuỗi cung ứng và cụm sản phẩm, lấy doanh nghiệp dẫn dắt làm lực kéo thị trường, doanh nghiệp CNHT trong nước làm trung tâm và Nhà nước đóng vai trò kiến tạo. Hạ tầng dùng chung, hệ thống kiểm thử, chứng nhận, R&D và đào tạo cần được phát triển để giảm chi phí cho từng doanh nghiệp.

Các lĩnh vực được định hướng ưu tiên gồm điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, cơ khí tự động hóa, ô tô, công nghệ cao, dệt may - da giày và các lĩnh vực có khả năng sử dụng kép trong công nghiệp quốc phòng.

Một điểm đáng chú ý là hỗ trợ cần gắn với kết quả đo được. Không nên chỉ tính số máy móc được mua hoặc số doanh nghiệp được hỗ trợ, mà phải đo bằng tiêu chuẩn đạt được, năng suất tăng, tỷ lệ lỗi giảm, doanh thu từ khách hàng mới, giá trị nhập khẩu được thay thế hoặc số nhà cung ứng được nâng cấp.

Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị tổ chức hoạt động nghiên cứu xoay quanh những bài toán sản xuất cụ thể của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng hạ tầng dùng chung về R&D, thử nghiệm, đo lường và chứng nhận. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng Nghị quyết 57-NQ/TW tạo khung để lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Với doanh nghiệp, theo GS.TS. Mạc Quốc Anh, cần hình thành một “hành trình nhà cung ứng”, bắt đầu từ yêu cầu của bên mua và kết thúc bằng kết quả đã được kiểm chứng. Các chương trình hỗ trợ cũng cần có lộ trình theo từng giai đoạn, từ đánh giá khoảng cách, nâng cấp năng lực đến thử nghiệm, cung ứng và mở rộng đơn hàng.

Việc hỗ trợ doanh nghiệp phải đi vào những điểm nghẽn cụ thể như ổn định sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, độ tin cậy giao hàng hay khả năng đảm nhận thêm công đoạn. Đồng thời, hợp đồng giữa doanh nghiệp và bên mua cần rõ ràng hơn về khuôn mẫu, chi phí phát triển mẫu, thay đổi thiết kế và điều kiện thanh toán.

PGS.TS. Phan Đăng Tuất cho rằng cần có khung pháp lý riêng, rõ hơn cho CNHT; tăng trách nhiệm liên kết giữa doanh nghiệp dẫn dắt với nhà cung ứng trong nước; phát triển các cụm CNHT; xây dựng trung tâm R&D, thử nghiệm, ươm tạo dùng chung; thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ông cũng đề xuất nghiên cứu khả năng hình thành quỹ phát triển CNHT ở cấp quốc gia.

Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm công nghiệp chủ lực tỉnh Phú Thọ
Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm công nghiệp chủ lực tỉnh Phú Thọ

Tại Phú Thọ, địa phương hiện có trên 500 doanh nghiệp CNHT, 25 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 6 doanh nghiệp công nghệ cao và 57 tổ chức khoa học và công nghệ. Tỉnh định hướng đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học, lấy nhu cầu sản xuất làm cơ sở cho hoạt động R&D.

Phú Thọ đặt mục tiêu đào tạo khoảng 20.000 lao động kỹ thuật chất lượng cao, trong đó chú trọng nhân lực cho các ngành mới như bán dẫn. Địa phương cũng định hướng thu hút FDI có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực và nâng cấp nhà cung ứng trong nước. Mục tiêu được nêu là có ít nhất 20 nhà cung ứng cấp 1 và khoảng 100 doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi.

Cách tiếp cận này cho thấy một hướng đi đáng chú ý: thay vì xem CNHT như một nhóm doanh nghiệp riêng lẻ, cần xây dựng cả một hệ sinh thái gồm doanh nghiệp dẫn dắt, nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, cấp 3, đơn vị nghiên cứu, đào tạo và hệ thống nguyên liệu đầu vào.

Không có một công thức chung, nhưng có những điểm rất đáng học

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mỗi nước có cách phát triển CNHT khác nhau, nhưng đều coi trọng chuyên môn hóa, liên kết và năng lực công nghệ.

Tại Nhật Bản, hệ thống doanh nghiệp cung ứng nhiều tầng gắn chặt với các nhà sản xuất lớn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên sâu vào một công đoạn hoặc một sản phẩm, từ đó tạo ra năng lực rất khó thay thế.

Hàn Quốc chú trọng phát triển vật liệu, linh kiện và thiết bị trong nước, đặc biệt sau cú sốc hạn chế xuất khẩu năm 2019. Mối liên kết giữa tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa được sử dụng như một động lực để nâng cấp nhà cung ứng.

Đài Loan phát triển mạnh mô hình kết nối nghiên cứu ứng dụng với sản xuất, trong đó các viện nghiên cứu đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và doanh nghiệp. Hệ sinh thái bán dẫn là ví dụ nổi bật của việc chuyên môn hóa sâu và hình thành chuỗi cung ứng nhiều tầng.

Đức lại cho thấy sức mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên môn hóa cao, thường được gọi là nhóm “Hidden Champions”. Những doanh nghiệp này tập trung vào các thị trường ngách, đầu tư mạnh vào công nghệ và chất lượng, đồng thời gắn đào tạo nghề với nhu cầu thực tế của sản xuất.

Trung Quốc thúc đẩy nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa “chuyên tinh, đặc tân”, tức chuyên môn hóa, tinh thông, có đặc điểm riêng và đổi mới. Chính sách công nghiệp, tiêu chuẩn và mua sắm công được sử dụng để tạo thị trường và nâng cấp doanh nghiệp.

Malaysia với NIMP 2030 theo cách tiếp cận dựa trên sứ mệnh, đặt ra các chỉ tiêu rõ ràng và kết hợp nhiều nguồn vốn để thực hiện.

Nhìn từ những kinh nghiệm này, có thể thấy không có một công thức duy nhất cho CNHT. Nhưng có một mẫu số chung: Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, mà tạo môi trường, hạ tầng, tiêu chuẩn, tài chính và thị trường để doanh nghiệp nâng cấp; doanh nghiệp lớn phải tạo lực kéo; doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chuyên môn hóa; còn viện nghiên cứu và trường đại học phải gắn chặt hơn với các bài toán sản xuất.

Với Việt Nam, câu hỏi quan trọng vì thế không chỉ là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp CNHT. Quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp có thể đi từ sản xuất chi tiết đơn giản lên cụm linh kiện, từ gia công lên thiết kế, từ đáp ứng tiêu chuẩn của người mua đến cùng phát triển sản phẩm và cuối cùng là làm chủ công nghệ.

Nếu trả lời được câu hỏi đó, CNHT mới thực sự trở thành nền tảng giúp Việt Nam giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước và tiến sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

hoi nghi 2
Các gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm công nghiệp chủ lực tỉnh Phú Thọ

Công nghiệp hỗ trợ phải chuyển từ “nội địa hóa sản phẩm” sang “nội địa hóa giá trị”

Phát biểu đề dẫn Hội thảo khoa học “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” ngày 30-9 tại Phú Thọ, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh công nghiệp hỗ trợ không phải là bộ phận thứ yếu mà là một trong những nền tảng hình thành năng lực công nghiệp quốc gia.

Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, thời gian qua công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, hệ thống doanh nghiệp cung ứng trong một số ngành từng bước hình thành và một số doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, đây vẫn là khâu yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ là thiếu doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, mà còn là thiếu năng lực doanh nghiệp ở những tầng có giá trị gia tăng cao”, ông Nguyễn Thanh Nghị nói.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn gặp khó khăn về vốn dài hạn, công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, nhân lực kỹ thuật và năng lực nghiên cứu - phát triển. Sự liên kết giữa doanh nghiệp dẫn dắt với doanh nghiệp cung ứng, giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm kỹ thuật chưa trở thành một hệ sinh thái hiệu quả.

Đáng chú ý, ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng nếu chỉ tăng số lượng doanh nghiệp, mở rộng danh mục sản phẩm hoặc nâng tỷ lệ nội địa hóa thì chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải xác định giá trị nào được tạo ra trong nước, công nghệ nào được làm chủ và doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ở đâu, có thể tiến lên tầng nào trong chuỗi giá trị.

“Đây chính là yêu cầu chuyển từ ‘nội địa hóa sản phẩm’ sang ‘nội địa hóa giá trị và năng lực’”, ông nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Thanh Nghị đề nghị chuyển trọng tâm từ “có sản phẩm” sang “có năng lực”, hướng tới hình thành các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, nhà tích hợp hệ thống, đồng thời cùng khách hàng nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm.

Nhà nước cần tập trung kiến tạo thể chế, thị trường và hạ tầng; doanh nghiệp dẫn dắt xác định nhu cầu, tiêu chuẩn và lộ trình phát triển nhà cung ứng; doanh nghiệp CNHT đầu tư nâng cao năng lực; viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm kỹ thuật tham gia giải quyết bài toán công nghệ, thử nghiệm và chứng nhận.

Đồng thời, cần lựa chọn có trọng tâm các ngành, công nghệ có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn; xây dựng hạ tầng kỹ thuật dùng chung; đổi mới đào tạo nhân lực và chuyển phương thức hỗ trợ của Nhà nước theo hướng tập trung, có điều kiện, gắn với kết quả có thể kiểm chứng.

Theo ông, tự chủ công nghiệp không đồng nghĩa với tự sản xuất tất cả. “Tự chủ phải đi cùng hội nhập. Tự cường phải đi cùng hợp tác. Năng lực trong nước phải gắn với chuỗi giá trị toàn cầu”.

Đình Long