Công nghệ quân sự

Trung Quốc chiếm 44% hồ sơ sáng chế drone: Vì sao Mỹ vẫn chưa bị bỏ xa?

Bảo Đăng • 02/10/2026 16:01

Doanh nghiệp Trung Quốc chiếm 44% hồ sơ sáng chế drone toàn cầu, gấp hơn 2,5 lần Mỹ. Nhưng xét sức ảnh hưởng của danh mục, khoảng cách nhỏ hơn nhiều. Lợi thế rõ nhất của Trung Quốc lại nằm ở nhà máy và chuỗi cung ứng.

Báo cáo của LexisNexis Intellectual Property Solutions công bố ngày 1/10 cho biết doanh nghiệp Trung Quốc chiếm 44% số hồ sơ sáng chế drone trên thế giới trong năm 2024, còn Mỹ là 17%. Sang năm 2025, nếu tính theo quy mô danh mục, Trung Quốc chiếm 47% và Mỹ 15%. Tuy nhiên, khi xét thêm mức độ ảnh hưởng của sáng chế và phạm vi thị trường được bảo hộ, tỉ lệ lại thành 34% và 36%. Điều này cho thấy Mỹ có ít hồ sơ hơn nhiều nhưng sức mạnh danh mục theo thước đo của LexisNexis vẫn gần ngang Trung Quốc.

e54bb1f5-1161-4986-b304-c1b35ad46c1e.png
Cuộc đua drone Mỹ - Trung không chỉ nằm ở sáng chế mà còn ở năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng. Ảnh: B.Đ

Các sáng chế trong lĩnh vực drone không chỉ liên quan đến bản thân chiếc máy bay. Chúng trải rộng từ động cơ, cảm biến và hệ thống điều khiển bay đến nhận dạng hình ảnh, liên lạc và phần mềm tự hành. Teal Group ước tính thị trường drone dân sự có thể đạt khoảng 150 tỉ USD trong giai đoạn 2023 - 2032.

Trung Quốc vượt lên về số lượng như thế nào?

Khoảng một thập kỉ trước, Mỹ vẫn dẫn đầu về sáng chế drone. Hoạt động đăng kí tăng nhanh từ giữa những năm 2010 khi linh kiện điện tử ngày càng rẻ và drone bắt đầu được sử dụng rộng rãi ngoài mục đích giải trí, từ nông nghiệp, xây dựng đến logistics, an ninh và quốc phòng.

Trung Quốc tận dụng rất nhanh giai đoạn này. Hệ sinh thái điện tử tại Thâm Quyến giúp doanh nghiệp dễ tìm linh kiện, rút ngắn thời gian làm mẫu thử và nhanh chóng chuyển sang sản xuất hàng loạt. DJI, hãng công nghệ Trung Quốc nổi tiếng với drone và thiết bị quay phim, trở thành cái tên tiêu biểu nhất.

Cuối năm 2018, riêng DJI chiếm khoảng 24% tổng Patent Asset Index của toàn ngành, nhiều hơn chín công ty còn lại trong top 10 cộng lại. Patent Asset Index, hay Chỉ số Tài sản Bằng sáng chế, là thước đo LexisNexis dùng để đánh giá sức mạnh của một danh mục sáng chế thay vì chỉ đếm số lượng.

thanhnien.mediacdn.vn-uploaded-minhhung-2022_10_06-_dji-3902.jpg
Một mẫu drone thịnh hành của DJI. Ảnh: Reuters

Vị thế của DJI sau đó giảm đáng kể. Theo LexisNexis, tỉ trọng của hãng trong Patent Asset Index hiện chỉ còn khoảng 4%, gần Boeing và không còn cách xa Amazon hay Alphabet. Hoạt động đăng kí sáng chế mới cũng chậm lại. Năm 2024, DJI chỉ còn ba hồ sơ mới, giảm 99% so với thời kì cao điểm.

LexisNexis không đưa ra một nguyên nhân duy nhất cho sự sụt giảm này. DJI có thể đang tinh gọn danh mục, giữ một số công nghệ dưới dạng bí mật kinh doanh hoặc điều chỉnh chiến lược trước môi trường pháp lí ngày càng khó khăn tại Mỹ.

Cách thống kê cũng cần được hiểu đúng. Nếu cùng một phát minh được xin bảo hộ tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, LexisNexis có thể gộp các hồ sơ liên quan thành một nhóm thay vì tính riêng từng lần đăng kí. Cách làm này giúp tránh việc một phát minh bị đếm nhiều lần chỉ vì được bảo hộ ở nhiều thị trường.

Số doanh nghiệp sở hữu sáng chế liên quan đến drone đã tăng từ khoảng 1.100 năm 2016 lên gần 9.700 vào năm 2026. Thành phần tham gia cũng rộng hơn trước, không chỉ có các hãng sản xuất máy bay không người lái mà còn gồm doanh nghiệp hàng không, bán dẫn, AI, logistics và quốc phòng.

Vì sao Mỹ ít hồ sơ hơn nhưng vẫn mạnh về công nghệ?

Patent Asset Index không chỉ xem một doanh nghiệp sở hữu bao nhiêu sáng chế. Chỉ số này còn tính mức độ một công nghệ ảnh hưởng tới những phát minh ra đời sau và phạm vi thị trường mà nó được bảo hộ.

Hai yếu tố này được LexisNexis gọi là Technology Relevance, tức mức độ ảnh hưởng về công nghệ, và Market Coverage, tức phạm vi thị trường được bảo hộ. Một sáng chế chỉ đăng kí ở một thị trường và ít được các phát minh sau viện dẫn sẽ có điểm thấp hơn sáng chế được bảo hộ tại nhiều thị trường lớn và thường xuyên trở thành nền tảng cho công nghệ mới.

Cách tính này không thể dùng để kết luận công nghệ của nước nào tốt hơn tuyệt đối. Nó chủ yếu giúp phân biệt giữa một danh mục có nhiều hồ sơ và một danh mục có sức ảnh hưởng lớn.

Theo LexisNexis, Mỹ chiếm 36% sức mạnh danh mục drone toàn cầu năm 2025, còn Trung Quốc là 34%, dù quy mô danh mục của Trung Quốc lớn hơn hơn ba lần. Chênh lệch lớn về số lượng vì thế chưa tạo ra khoảng cách tương tự về sức mạnh sở hữu trí tuệ.

Điều này thể hiện khá rõ trong danh sách doanh nghiệp dẫn đầu. Top 10 theo Patent Asset Index có sáu công ty Mỹ gồm Boeing, Alphabet, Amazon, Textron, Skydio và Qualcomm. Trung Quốc có DJI, State Grid và Autel Robotics. DJI vẫn đứng đầu với chỉ số 1.807, còn Boeing theo sau với 1.618.

i1-vnexpress.vnecdn.net-2025-08-09-_drone-skydio-x10d-1754703994-7002-1754707120.png
Drone cỡ nhỏ của Skydio. Ảnh: Skydio

Các doanh nghiệp Mỹ cũng mạnh ở nhiều lớp công nghệ khác nhau. Boeing có nền tảng hàng không vũ trụ, Qualcomm nổi bật về chip và kết nối, còn Skydio tập trung vào bay tự hành và thị giác máy tính. Vì vậy, một phần năng lực drone của Mỹ nằm trong phần mềm, bán dẫn và hệ thống điều khiển chứ không chỉ thể hiện ở những chiếc máy bay hoàn chỉnh.

Trong 10 startup được LexisNexis xếp hạng cao nhất về sức mạnh sáng chế, Mỹ có Skydio, Valqari, Anduril và Zipline. Trung Quốc có Autel Robotics và Zero Zero Robotics. Autel đứng đầu, còn Skydio xếp thứ hai.

Tuy nhiên, lợi thế về công nghệ chưa giúp Mỹ giải quyết bài toán khó hơn là sản xuất drone với số lượng lớn và giá thấp.

Khoảng cách lớn nhất nằm ở nhà máy và linh kiện

Trên thị trường thực tế, ưu thế sản xuất của Trung Quốc thể hiện rõ hơn so với bảng sáng chế. Wall Street Journal năm 2024 dẫn các ước tính cho rằng DJI chiếm khoảng 70 - 90% thị trường drone Mỹ ở một số lĩnh vực như an toàn công cộng và nông nghiệp. Đây không phải thị phần hiện tại, nhưng cho thấy các nhà sản xuất Mỹ từng gặp khó thế nào khi cạnh tranh về giá và quy mô.

Chuỗi cung ứng còn là vấn đề lớn hơn. Trong tuyên bố ngày 13/8/2026, Nhà Trắng cho biết nhiều nhà sản xuất drone thương mại của Mỹ vẫn phụ thuộc vào nguồn nước ngoài đối với động cơ, bộ điều tốc điện tử, pin lithium-ion và trạm đỗ. Ngay cả nhiều mẫu được sản xuất tại Mỹ vẫn chứa những linh kiện quan trọng làm ở nước ngoài.

Skydio từng trực tiếp gặp rủi ro này. Sau khi Trung Quốc áp lệnh trừng phạt công ty vào tháng 10/2024, hãng cho biết nguồn pin bị ảnh hưởng và phải giới hạn một pin cho mỗi drone trong thời gian tìm nhà cung cấp thay thế.

Washington đang tìm cách giảm sự phụ thuộc bằng cả chính sách thương mại và các đơn hàng trong nước. Một trong những biện pháp đáng chú ý là siết quy định đối với drone và linh kiện bị đánh giá có thể gây rủi ro an ninh.

Cuối năm 2025, Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ đưa nhiều hệ thống máy bay không người lái sản xuất ở nước ngoài cùng các linh kiện quan trọng vào Covered List. UAS là viết tắt của Unmanned Aircraft System, tức hệ thống gồm drone, thiết bị điều khiển và những bộ phận cần thiết để vận hành.

Covered List là danh sách các thiết bị hoặc dịch vụ mà FCC đánh giá có thể gây rủi ro đối với an ninh quốc gia Mỹ. Các mẫu mới thuộc diện này gặp hạn chế khi xin cấp phép để nhập khẩu và bán tại Mỹ, trong khi những thiết bị đã được cấp phép trước đó không tự động bị cấm sử dụng.

FCC vẫn để lại một số ngoại lệ cho sản phẩm đáp ứng yêu cầu về an ninh và xuất xứ. Tháng 7/2026, cơ quan này kéo dài thời hạn miễn trừ đến ngày 1/1/2028 đối với UAS thuộc Blue UAS Cleared List, tức những drone và linh kiện đã được Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá về an ninh và chuỗi cung ứng. Một số sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn Buy American cũng được hưởng ngoại lệ. Đây là chính sách ưu tiên hàng hóa sản xuất tại Mỹ với tỉ lệ linh kiện nội địa nhất định.

Tháng 8/2026, Nhà Trắng tiếp tục công bố kế hoạch áp thuế theo Điều 232 đối với drone và linh kiện nhập khẩu. Một số mức thuế bắt đầu có hiệu lực từ ngày 3/9, còn một số linh kiện khác được lùi thời điểm áp dụng đến tháng 2/2027.

Trong lĩnh vực quân sự, chương trình Drone Dominance trị giá khoảng 1 tỉ USD được thiết kế nhằm tạo đơn hàng đủ lớn để thúc đẩy sản xuất trong nước. Gauntlet I đã đặt 30.000 drone. Sau Gauntlet II, chương trình dự kiến đặt thêm 60.000 chiếc từ các nhà cung cấp dẫn đầu. Mục tiêu rộng hơn là mua hơn 200.000 drone có khả năng tạo hiệu ứng sát thương vào năm 2027.

Những đơn hàng lớn có thể giúp doanh nghiệp Mỹ tăng công suất, nhưng khó nhanh chóng san bằng lợi thế mà Trung Quốc đã xây dựng trong nhiều năm về linh kiện và sản xuất hàng loạt.

Con số 44% cho thấy ngành drone Trung Quốc đang mở rộng rất nhanh, nhưng chưa đủ để kết luận Mỹ đã bị bỏ xa về công nghệ. Ưu thế rõ hơn của Bắc Kinh nằm ở chuỗi cung ứng và năng lực sản xuất, trong khi Washington vẫn phải dùng thuế, quy định và đơn hàng quốc phòng để củng cố ngành trong nước. Cuộc đua drone vì thế sẽ không chỉ được quyết định trong phòng nghiên cứu mà còn trên dây chuyền sản xuất.

Bảo Đăng