Kinh tế

Đau đầu với nỗi lo kép từ ‘cơn bão’ xăng dầu

Mai Đình • 03/10/2026 16:46

Bài toán hạ nhiệt giá xăng không chỉ nằm ở việc tìm cách giảm giá trong một vài kỳ điều hành, mà còn nằm ở việc giảm chi phí và những tầng nấc không cần thiết trong cả chuỗi cung ứng.

Giá xăng tăng 5 kỳ liên tiếp, trong khi nguồn cung dầu thô và xăng dầu thành phẩm vẫn đứng trước những rủi ro từ bất ổn địa chính trị. Một mặt, người dân và doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép chi phí; mặt khác, thị trường trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu và sản phẩm nhập khẩu.

Giá xăng dầu trong nước vừa trải qua 5 kỳ điều hành tăng liên tiếp. Từ ngày 1/10, xăng E5 lên 26.560 đồng/lít, xăng E10 lên 27.180 đồng/lít. Tính từ đầu tháng 9, giá E5 đã tăng tổng cộng 4.800 đồng/lít, còn E10 tăng 4.580 đồng/lít.

Trong khi đó, những diễn biến phức tạp tại Trung Đông tiếp tục đặt ra câu hỏi về nguồn cung dầu thô và xăng dầu thành phẩm trên thị trường thế giới, từ đó tác động đến Việt Nam.

Nỗi lo giá liên tục leo thang

Theo liên Bộ Công Thương - Tài chính, trong kỳ điều hành ngày 1/10, giá thành phẩm xăng dầu thế giới diễn biến khác nhau giữa các mặt hàng. Giá bình quân xăng RON 92 ở mức 140,89 USD/thùng, tăng 0,05%; xăng RON 95 ở mức 147,25 USD/thùng, tăng 0,03%. Trong khi đó, dầu diesel giảm 3,65%, còn dầu mazut tăng 5,49%.

Việc giá xăng tiếp tục tăng trong 5 kỳ liên tiếp diễn ra trong bối cảnh thị trường dầu thế giới chịu tác động đan xen từ xung đột tại Trung Đông, chiến sự Nga - Ukraine và những biến động liên quan đến nguồn cung nhiên liệu.

Trên thị trường thế giới, Brent hiện quanh mức 102,6 USD/thùng. Giá dầu có lúc giảm khi xuất khẩu dầu thô từ Trung Đông được cải thiện, nhưng sau đó lại tăng mạnh do những lo ngại mới về nguồn cung nhiên liệu.

Điều đáng chú ý là giá dầu thô và giá nhiên liệu thành phẩm không phải lúc nào cũng vận động cùng chiều. Dầu thô có thể tìm được đường ra thị trường, nhưng nguồn cung diesel vẫn gặp khó khăn do công suất lọc dầu tại khu vực Vùng Vịnh bị gián đoạn và hoạt động xuất khẩu diesel chưa trở lại bình thường.

cua-hang-xang-dau-ban-le 14
Từ ngày 1-10, xăng E5 lên 26.560 đồng/lít, xăng E10 lên 27.180 đồng/lít. Ảnh: Mai Đình

Đây cũng là lý do những biến động của thị trường thế giới có thể nhanh chóng truyền dẫn vào thị trường trong nước.

Với người dân, giá xăng tăng trực tiếp làm tăng chi phí đi lại và gián tiếp gây sức ép lên giá vận tải, hàng hóa, dịch vụ. Với doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành sử dụng nhiều phương tiện vận chuyển, nhiên liệu là một khoản chi phí đầu vào khó có thể cắt giảm trong ngắn hạn.

Đáng nói hơn, doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu lại đang đứng trước một nghịch lý: giá bán tăng nhưng khả năng kinh doanh chưa chắc được cải thiện. Theo phản ánh của các doanh nghiệp bán lẻ trong tài liệu, chiết khấu xăng dầu nhiều thời điểm chỉ khoảng 100 - 200 đồng/lít, trong khi riêng chi phí vận chuyển đã khoảng 150 - 300 đồng/lít, tùy địa bàn.

Như vậy, một đợt tăng giá xăng không đồng nghĩa tất cả các mắt xích trong chuỗi kinh doanh đều được hưởng lợi. Nếu chi phí kinh doanh tiếp tục cao trong khi chiết khấu thấp, cửa hàng bán lẻ vẫn có thể rơi vào tình trạng càng bán càng khó.

PGS.TS. Ngô Trí Long cho rằng một trong những nút thắt quan trọng nằm ở khả năng lựa chọn nguồn hàng của các cửa hàng bán lẻ.

Theo ông, nếu cửa hàng có quyền lựa chọn nhiều nhà cung cấp đáp ứng tiêu chuẩn, họ có thể thương lượng về giá nhập, chiết khấu, chất lượng dịch vụ và thời hạn giao hàng. Khi đó, lợi ích từ cạnh tranh ở thượng nguồn mới có khả năng truyền xuống giá bán lẻ.

Tuy nhiên, ông Long lưu ý đa nguồn không đồng nghĩa với buông lỏng truy xuất nguồn gốc. Việc mở rộng khả năng lựa chọn nhà cung cấp phải đi cùng yêu cầu kiểm soát đường đi của xăng dầu từ nhà máy hoặc nguồn nhập khẩu, qua kho, phương tiện vận chuyển, thương nhân phân phối đến cửa hàng.

Đây là điểm quan trọng, bởi bài toán hạ nhiệt giá xăng không chỉ nằm ở việc tìm cách giảm giá trong một vài kỳ điều hành, mà còn nằm ở việc giảm chi phí và những tầng nấc không cần thiết trong cả chuỗi cung ứng.

Chính phủ cũng đang tiếp tục sử dụng công cụ thuế để hỗ trợ thị trường. Nghị quyết 43 được ban hành ngày 30/9 tiếp tục kéo dài thời hạn áp dụng các mức thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2026. Các loại thuế này tiếp tục được duy trì ở mức 0% trong thời gian áp dụng nghị quyết.

Đây là một trong những giải pháp giúp giảm bớt áp lực lên giá bán trong nước khi giá thế giới biến động. Tuy nhiên, về dài hạn, việc giảm các tầng nấc trung gian, giảm chi phí kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn hàng cũng là những yếu tố cần được tính đến.

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, cho rằng việc giảm tầng nấc trung gian trong chuỗi phân phối xăng dầu, giảm chi phí kinh doanh là những vấn đề tồn tại cần được sửa đổi, hoàn thiện trong nghị định mới.

Theo ông Linh, hiện có 26 thương nhân đầu mối nhưng chỉ khoảng 10 thương nhân chiếm tới 70 - 80% thị phần. Dự thảo mới thiết kế các điều kiện tham gia thị trường cao hơn và nếu được áp dụng ngay, số thương nhân đầu mối có thể còn khoảng 14 - 15 doanh nghiệp.

Tinh thần này nhằm hướng tới một hệ thống kinh doanh tinh gọn hơn, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực cung ứng của doanh nghiệp đầu mối.

“

Về dài hạn, việc giảm các tầng nấc trung gian, giảm chi phí kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn hàng cũng là những yếu tố cần được tính đến.

Nỗi lo nguồn cung nguy cơ bị đứt gãy

Nếu câu chuyện giá xăng khiến người dân và doanh nghiệp lo về chi phí, thì nguồn cung lại là nỗi lo khác không thể xem nhẹ.

Bộ Công Thương vừa yêu cầu các thương nhân đầu mối và thương nhân sản xuất xăng dầu bảo đảm nguồn cung cho hệ thống phân phối trong quý 4/2026. Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, giá dầu thô và xăng dầu thành phẩm khó đoán định, Bộ Công Thương yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đầy đủ tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm 2026 đã được phân giao, chủ động dự báo và xây dựng phương án ứng phó.

Đặc biệt, các doanh nghiệp được yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung, gồm cả nguồn trong nước và nhập khẩu; thực hiện nghiêm việc dự trữ; bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu, nhất là dầu diesel, trong mọi tình huống.

Các thương nhân đầu mối cũng được yêu cầu tuyệt đối không găm hàng chờ tăng giá và không để gián đoạn nguồn cung trong hệ thống, từ đầu mối, phân phối đến cửa hàng bán lẻ.

cua-hang-xang-dau-ban-le 12
Các doanh nghiệp được yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung, gồm cả nguồn trong nước và nhập khẩu. Ảnh: Mai Đình

Yêu cầu này xuất phát từ thực tế Việt Nam dù đã có năng lực sản xuất trong nước đáng kể nhưng vẫn phụ thuộc vào nguồn dầu thô và xăng dầu thành phẩm từ bên ngoài.

Hiện nguồn cung trong nước chủ yếu đến từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn. Hai nhà máy có tổng công suất thiết kế khoảng 14 - 18 triệu tấn sản phẩm mỗi năm, đáp ứng khoảng 65 - 70% nhu cầu tiêu dùng nội địa.

Phần còn lại phải bù đắp bằng nhập khẩu. Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu hơn 9,9 triệu tấn xăng dầu thành phẩm, trị giá khoảng 6,8 tỉ USD. Nguồn nhập khẩu chủ yếu đến từ Singapore, Hàn Quốc và Malaysia.

Ở phía nguyên liệu, sự phụ thuộc còn rõ hơn. Phần lớn dầu thô phục vụ các nhà máy lọc dầu trong nước vẫn phải nhập khẩu. Theo số liệu từ cơ quan chức năng, năm 2025 Việt Nam nhập khẩu hơn 14,1 triệu tấn dầu thô, trị giá hơn 7,7 tỉ USD.

Trong 3 nguồn cung dầu thô chính là Kuwait, Nigeria và Brunei, Kuwait chiếm tỷ trọng lớn nhất. Trong 11 tháng năm 2025, Việt Nam nhập khẩu từ Kuwait hơn 9,9 triệu tấn dầu thô, chiếm gần 80% tổng lượng nhập khẩu.

Điều này khiến những diễn biến tại Trung Đông trở thành vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà máy lọc dầu trong nước.

Kuwait nằm tại khu vực Vịnh Ba Tư và phần lớn dầu thô xuất khẩu của nước này được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Khi tuyến vận tải này đối mặt với rủi ro, chi phí vận tải, bảo hiểm và thời gian giao hàng đều có thể chịu tác động.

Tuy nhiên, câu chuyện nguồn cung của Việt Nam không phải hoàn toàn thiếu phương án ứng phó.

Tại Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, ông Kazutaka Yamato, Tổng giám đốc NSRP, cho biết dù nguồn cung dầu thô nhập khẩu từ Kuwait bị gián đoạn trong nửa đầu năm, nhà máy vẫn duy trì vận hành ổn định, có thời điểm công suất lên tới 125%.

NSRP hiện đáp ứng khoảng 35 - 40% nhu cầu xăng dầu trong nước. Trong 8 tháng đầu năm 2026, nhà máy đã chế biến 7,3 triệu tấn dầu thô, sản lượng xăng dầu đạt 5,6 triệu tấn, bằng 103% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, từ tháng 4 đến tháng 6, trước những biến động địa chính trị, nhà máy giảm sản xuất hóa dầu và tập trung vào các sản phẩm lọc dầu, qua đó giúp nguồn xăng dầu tăng thêm 15 - 17%.

Theo ông Yamato, một trong những bài học quan trọng từ những biến động vừa qua là phải chủ động chuẩn bị, linh hoạt ứng phó và đa dạng hóa nguồn dầu thô.

Nhà máy Nghi Sơn đã thử nghiệm và xử lý thành công 10 loại dầu thô mới. Theo ông Lê Nguyễn Quốc Vinh, Giám đốc nhà máy, việc này giúp tăng khả năng lựa chọn nguồn cung và giảm rủi ro từ biến động thị trường.

Nhà máy hiện đã có nguồn dầu thô đến hết tháng 11 và đang đàm phán hợp đồng cho tháng 12 và năm sau. Với công suất vận hành cao, nhà máy cũng chủ động nhập thêm nguồn dầu từ bên ngoài để bổ sung.

Những con số này cho thấy nguy cơ nguồn cung bị đứt gãy không đồng nghĩa với việc thị trường chắc chắn thiếu xăng dầu. Vấn đề nằm ở khả năng chuẩn bị nguồn hàng, dự trữ, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và khả năng vận hành ổn định của các nhà máy trong nước.

“

Không chỉ có đủ xăng để bán, mà phải bảo đảm xăng đến được với người tiêu dùng với chi phí hợp lý, ngay cả khi thị trường thế giới đang nhiều biến động.

Không để nỗi lo kép thành rủi ro kép

Nguồn cung xăng dầu của Việt Nam hiện có nhiều lớp: sản xuất trong nước, nhập khẩu xăng dầu thành phẩm và nhập khẩu dầu thô để chế biến. Cấu trúc này tạo ra khả năng bổ trợ lẫn nhau nhưng cũng khiến thị trường chịu tác động từ những biến động bên ngoài.

PGS.TS. Ngô Trí Long cho rằng trong năm 2026, Bộ Công Thương đã phân giao tổng nguồn tối thiểu gần 31,8 triệu m³/tấn xăng dầu. Hai nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn tại thời điểm đầu năm có khả năng đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường, phần còn lại vẫn phụ thuộc nhập khẩu.

Theo ông, đa dạng hóa nguồn cung cần được xem là một cấu phần của an ninh năng lượng, chứ không đơn thuần là vấn đề thương mại.

Ở góc độ này, yêu cầu của Bộ Công Thương đối với doanh nghiệp đầu mối và nhà sản xuất là cần thiết: phải chủ động nguồn hàng, thực hiện đúng tổng nguồn tối thiểu được phân giao, duy trì dự trữ, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tuyệt đối không găm hàng.

Bên cạnh đó, việc giảm các tầng nấc trung gian và tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh cũng có thể góp phần giảm chi phí của chuỗi cung ứng.

Nhưng điều quan trọng là cải cách thị trường phải đi cùng với an ninh nguồn cung. Ông Trần Hữu Linh cho rằng xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh, đời sống người dân và an ninh năng lượng quốc gia. Vì vậy, đổi mới cơ chế quản lý phải đồng thời bảo đảm nguồn cung, duy trì hệ thống phân phối và khả năng ứng phó trong những tình huống bất thường.

Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Ảnh từ internet
Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Ảnh từ internet

Ngược lại, nếu nguồn cung được chuẩn bị tốt, các nhà máy duy trì sản xuất ổn định, doanh nghiệp có nhiều lựa chọn về nguồn hàng và chuỗi phân phối giảm được những chi phí không cần thiết, thị trường sẽ có thêm dư địa để ứng phó khi giá thế giới biến động.

Như PGS.TS. Ngô Trí Long phân tích, người tiêu dùng không nhất thiết phải biết doanh nghiệp lời bao nhiêu trên mỗi lít xăng. Điều họ cần là có thể mua cùng một loại xăng ở đâu với mức giá tốt hơn và nguồn cung không bị đứt đoạn.

Đó cũng chính là thước đo quan trọng của một thị trường xăng dầu vận hành minh bạch và cạnh tranh: không chỉ có đủ xăng để bán, mà phải bảo đảm xăng đến được với người tiêu dùng với chi phí hợp lý, ngay cả khi thị trường thế giới đang nhiều biến động.

Mai Đình