Kinh tế

Tăng trưởng hai con số: Dòng vốn dài hạn ở đâu khi ngân hàng gánh 48%?

Thùy Linh • 06/10/2026 13:51

Tăng trưởng hai con số đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ, trong khi gần một nửa vẫn dựa vào tín dụng ngân hàng. Bài toán đặt ra là mở rộng các kênh vốn dài hạn mà không dồn thêm rủi ro lên hệ thống ngân hàng.

Nhu cầu vốn cho giai đoạn tăng trưởng hai con số đang đặt nền kinh tế trước một bài toán lớn: lấy tiền ở đâu và làm thế nào kiểm soát rủi ro khi nguồn vốn hiện vẫn phụ thuộc đáng kể vào hệ thống ngân hàng.

Làm sao để giảm lệ thuộc vào vốn ngân hàng?

Theo tính toán của TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 48% nguồn vốn của nền kinh tế, trong khi vốn huy động từ thị trường cổ phiếu chiếm 6%, trái phiếu doanh nghiệp 9,4%, đầu tư công 16%, FDI 12,5% và khu vực doanh nghiệp tư nhân khoảng 9%.

Điều đó cho thấy rất rõ sự bất cân xứng khi vẫn cần đến gần 50% vốn cho nền kinh tế đến từ hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, hai cấu phần quan trọng của thị trường vốn là cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới đóng góp khoảng 15%.
"Cơ cấu này cho thấy nếu nhu cầu vốn tiếp tục tăng mạnh để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng sẽ tạo thêm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng các kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế”, ông Lực nhận định.

tang-truong-kinh-te.jpeg
Nhu cầu vốn dài hạn ngày càng lớn khi nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Ảnh: T.L

Bà Tạ Thị Tuệ Anh, Giám đốc Khối Khách hàng định chế tài chính HSBC, cho rằng Việt Nam cần kết hợp cả nội lực và vốn quốc tế, đồng thời mở rộng sự tham gia của các định chế tài chính phi ngân hàng để giảm tải cho hệ thống ngân hàng.

Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang quản lý lượng tài sản đáng kể nhưng lại thiếu các kênh đầu tư dài hạn phù hợp. Hiện nguồn vốn này chủ yếu được phân bổ vào trái phiếu kho bạc và tiền gửi ngân hàng ngắn hạn.

“Nếu có cơ chế huy động nguồn vốn này, trước khi đi ra quốc tế, nền kinh tế đã huy động được một nguồn vốn trong nước rất lớn”, bà Tuệ Anh nói.

Sau khi khai thông tốt hơn nguồn lực trong nước, dòng vốn quốc tế sẽ là mảnh ghép tiếp theo.

Theo bà Tuệ Anh, thay vì doanh nghiệp Việt Nam phải ra nước ngoài vay vốn, Trung tâm tài chính quốc tế (VIFC) tại TP.HCM và Đà Nẵng có thể trở thành nơi thu hút nguồn vốn ngoại ngay tại Việt Nam. Mô hình Trung tâm tài chính quốc tế GIFT City của Ấn Độ là một kinh nghiệm đáng tham khảo.

Theo số liệu vừa cập nhật của FinnGroup, đến cuối năm 2025, hơn 200 trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp Ấn Độ đã được niêm yết tại đây, với tổng giá trị huy động 70,9 tỷ USD. Trong đó 16,8 tỷ USD là trái phiếu xanh được dán nhãn theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn quốc tế không chỉ phụ thuộc vào việc hình thành một trung tâm tài chính. TS Cấn Văn Lực cho rằng muốn huy động vốn quốc tế, đặc biệt thông qua phát hành trái phiếu, Việt Nam cần nâng hệ số tín nhiệm quốc gia để giảm chi phí vốn cho cả nền kinh tế.

Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam hiện vay ngoại tệ từ nước ngoài không dễ, trong khi lãi suất có thể lên tới 6–7%. Vì vậy, Việt Nam cần “dứt khoát quyết tâm nâng hệ số tín nhiệm quốc gia lên”, qua đó tạo nền tảng giảm chi phí huy động vốn quốc tế.

Khơi dòng tiền dài hạn vào thị trường vốn

Muốn giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, thị trường vốn phải trở thành một trụ cột cung ứng vốn lớn hơn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, một nghịch lý đang đặt ra là kinh tế tăng trưởng khoảng 9% trong 9 tháng đầu năm, nhưng chỉ số chứng khoán không tăng tương ứng, thậm chí nhiều nhóm ngành còn giảm.

von-vay-dai-han.jpg
Áp lực vốn vay dài hạn đặt ra yêu cầu phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng. Ảnh: T.L

Ông Trịnh Thanh Cần, Thành viên HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Kafi, cho biết: Hiện nay, thị trường chứng khoán trong nước vẫn dựa nhiều vào ba nhóm chính là bất động sản, ngân hàng và dầu khí. Khi một số nhóm ngành có tỷ trọng lớn điều chỉnh, diễn biến của chỉ số khó phản ánh đầy đủ nhịp tăng trưởng của toàn nền kinh tế.

Để thay đổi cấu trúc này, cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và đưa thêm các doanh nghiệp lớn lên niêm yết. Việc gia tăng nguồn cung cổ phiếu chất lượng không chỉ giúp thị trường phản ánh đầy đủ hơn sức khỏe nền kinh tế, mà còn tạo thêm hàng hóa để hấp thụ các dòng vốn dài hạn.

Ở góc độ nhà đầu tư tổ chức, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Khối Nghiên cứu Dragon Capital nêu quan điểm: Thị trường chứng khoán Việt Nam có mức độ biến động rất cao.

“Một năm chúng ta có thể tăng 30%, nhưng năm sau lại giảm mạnh. Để có một thị trường vốn phát triển, thu hút được nhiều nguồn đầu tư lớn hơn, quy mô hơn và bền vững hơn, nhà đầu tư sẽ cần một thị trường ổn định hơn”, bà Minh nói.

Theo bà, muốn giải bài toán này, thị trường cần thêm những doanh nghiệp chất lượng, quy mô lớn, hoạt động ổn định và có khả năng chi trả cổ tức đều đặn. Khi tính ổn định và khả năng dự đoán của thị trường được nâng lên, Việt Nam mới có điều kiện thu hút những nhà đầu tư lớn trên thế giới.

Bên cạnh đó, bà Minh đề xuất xây dựng chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp niêm yết. Theo bà, việc lên sàn hiện mang lại nhiều nghĩa vụ nhưng quyền lợi chưa tương xứng. Vì vậy, cần có cơ chế khuyến khích và phân loại rõ ràng, trong đó những doanh nghiệp tạo giá trị cho cổ đông, kinh doanh hiệu quả và trả cổ tức đều đặn được hưởng ưu đãi tốt hơn.

Không chỉ cần thêm doanh nghiệp chất lượng, thị trường cũng cần một nguồn tiền đủ dài để đầu tư vào những doanh nghiệp này.

Ông Trịnh Thanh Cần cho rằng: Nguồn vốn còn rất nhiều dư địa nhưng chưa được khai thác hiệu quả là quỹ hưu trí tự nguyện. Dù đã vận hành hơn 10 năm, số dư quỹ hưu trí tự nguyện hiện mới khoảng 2.200 tỷ đồng, với khoảng 7 công ty quản lý quỹ tham gia. Nguyên nhân chính khiến kênh này chưa đủ hấp dẫn là các giới hạn đầu tư, đặc biệt đối với thị trường chứng khoán, làm thu hẹp lựa chọn và khả năng sinh lời của người tham gia.

Trong khi đó, các công ty chứng khoán Việt Nam đang phát triển nhanh về quy mô vốn, nền tảng công nghệ và mạng lưới khách hàng cá nhân. Do đó, chúng ta có thể nghiên cứu mở rộng vai trò của khối công ty chứng khoán trong phát triển và phân phối các sản phẩm hưu trí tự nguyện.

Nếu danh mục đầu tư được đa dạng hóa, đồng thời tận dụng được năng lực phân phối và tệp khách hàng của các công ty chứng khoán, đây có thể trở thành một kênh tạo vốn dài hạn đáng kể cho thị trường.

“Hiện thị trường chứng khoán có khoảng 14 triệu tài khoản. Giả sử thu hút được 1 triệu người tham gia quỹ hưu trí tự nguyện, với mức đóng góp bình quân 2 triệu đồng/tháng, thì mỗi tháng thị trường có thể bổ sung khoảng 2.000 tỷ đồng vốn dài hạn”, ông Cần tính toán.

Như vậy, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện không chỉ bổ sung một công cụ tích lũy cho người lao động mà còn có thể tạo ra dòng tiền đầu tư ổn định cho thị trường chứng khoán, từng bước giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng.

Cùng quan điểm phải tạo được “điểm đến” cho dòng tiền dài hạn, bà Đặng Nguyệt Minh cho rằng khi thị trường có nhiều sản phẩm đầu tư tốt, dòng vốn sẽ tự tìm đến.

Theo bà, điều quan trọng là phải phân loại được chất lượng doanh nghiệp để dòng vốn chảy vào những doanh nghiệp tạo ra hiệu quả cao, tăng trưởng bền vững, hoạt động ổn định và duy trì cổ tức. Cùng với đó là các chính sách đủ sức khuyến khích dòng tiền dài hạn ở lại thị trường.

Như vậy, lời giải cho nhu cầu vốn của giai đoạn tăng trưởng cao không đơn thuần nằm ở việc bơm thêm tín dụng. Bài toán lớn hơn là xây dựng được một hệ thống dẫn vốn cân bằng hơn, trong đó ngân hàng, thị trường chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, quỹ hưu trí và vốn quốc tế cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Thùy Linh