Thể thao

TTVN và bài học Asiad 20: Khi thể thao đỉnh cao là thi đấu bằng KH-CNKì cuối: Làm gì để đưa KH-CN trở thành ‘động cơ chính’ giúp TTVN tăng tốc?

Chính Minh - Bùi Tú - Hồ Quang • 11/10/2026 13:30

Sau những kết quả chưa đạt kì vọng tại Asiad 20, yêu cầu đổi mới phương thức huấn luyện và nâng cao năng lực khoa học hỗ trợ vận động viên (VĐV) càng trở nên cấp thiết. Từ phân tích dữ liệu vận động, kiểm soát tải tập luyện đến điều chỉnh kĩ thuật và đặc biệt là phục hồi thể lực, khoa học - công nghệ (KH-CN) đang trở thành một phần không thể thiếu của thể thao thành tích cao.

Chủ trương đã mở đường

Về chính sách, Việt Nam đã có những bước đi đáng chú ý. Quyết định số 3515/QĐ-BVHTTDL ngày 2/10/2025 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực thể dục thể thao, tạo cơ sở thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành và ứng dụng công nghệ vào quản lí, huấn luyện, theo dõi thành tích. Trước đó, ngày 15/10/2024, Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", xác định khoa học, công nghệ và y học thể thao là những yếu tố cần được tăng cường để nâng cao chất lượng thể thao thành tích cao.

Chuyên gia Stephane Monrin (áo hồng)- đại diện Công ty MyCoach - TrainingLoad Pro sẽ đồng hành cùng chương trình
Sáng 21/5/2025, tại Hà Nội đã Khai mạc chương trình tập huấn sử dụng phần mềm My Coach Pro cho HLV các đội tuyển quốc gia. Phó Cục trưởng Cục TDTT Việt Nam Nguyễn Hồng Minh (hàng đầu, thứ 4 từ trái qua) tham dự buổi lễ. Ảnh: Tdtt.gov.vn

Những định hướng này cho thấy chuyển đổi số không còn đơn thuần là câu chuyện hiện đại hóa công tác quản lí. Vấn đề quan trọng hơn là xây dựng được hệ thống dữ liệu đủ sâu để hỗ trợ trực tiếp quá trình phát triển VĐV.

Một cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) có giá trị không chỉ lưu trữ thành tích, thông tin cá nhân hay kết quả thi đấu. Hệ thống cần từng bước tích hợp hồ sơ thể lực, chỉ số sinh lí, lịch sử chấn thương, dinh dưỡng, quá trình hồi phục và diễn biến phong độ qua từng chu kì huấn luyện. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối từ tuyến trẻ đến đội tuyển quốc gia, HLV có thể theo dõi sự phát triển dài hạn của VĐV, nhận diện nguy cơ quá tải và điều chỉnh giáo án phù hợp hơn.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu với mức độ hoàn thành thực tế. Có chủ trương không đồng nghĩa hệ thống đã vận hành đồng bộ; số hóa hồ sơ cũng không đồng nghĩa dữ liệu đã được sử dụng hiệu quả trên sân tập.

Thách thức nằm ở khả năng tổ chức thực hiện. Dữ liệu phải được thu thập theo tiêu chuẩn thống nhất, có cơ chế bảo mật và phân quyền truy cập; đồng thời được chuyển hóa thành những khuyến nghị chuyên môn mà HLV có thể áp dụng. Nếu chỉ dừng ở việc xây dựng phần mềm hoặc tập hợp thông tin hành chính, chuyển đổi số khó tạo ra thay đổi đáng kể về thành tích.

Cần đặc biệt quan tâm tới quá trình hồi phục

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy lợi thế không chỉ đến từ việc sở hữu thiết bị hiện đại, mà còn từ cách tổ chức khoa học thể thao thành một hệ thống hỗ trợ liên tục cho VĐV.

Singapore là trường hợp đáng tham khảo trong khu vực. Thông qua High Performance Sport Institute (HPSI), nước này tổ chức các hoạt động hỗ trợ thành tích cao với sự tham gia của nhiều lĩnh vực chuyên môn, từ khoa học thể thao, y học thể thao đến các dịch vụ hỗ trợ VĐV và HLV. Cách tiếp cận liên ngành giúp kết quả đánh giá thể lực, tình trạng sức khỏe và yêu cầu chuyên môn được kết nối với quá trình chuẩn bị thi đấu.

Bài học đối với Việt Nam không nằm ở việc sao chép nguyên mô hình của Singapore, mà ở nguyên tắc tổ chức: Chuyên gia khoa học phải làm việc cùng HLV và VĐV, thay vì hoạt động tách biệt trong phòng nghiên cứu. Kết quả đo lường chỉ thực sự có giá trị khi dẫn đến thay đổi cụ thể trong giáo án, dinh dưỡng, phục hồi hoặc kĩ thuật thi đấu.

Đại diện lãnh đạo Cục TDTT Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ Dreamax đạt được thoải thuận kí kết, hợp tác tháng 7/2025. Ảnh: tdtt.gov.vn
Đại diện lãnh đạo Cục TDTT Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ Dreamax đạt được thoải thuận kí kết, hợp tác tháng 7/2025. Ảnh: Tdtt.gov.vn

Ở Việt Nam, hợp tác giữa Cục Thể dục thể thao Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ Dreamax trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào huấn luyện là một ví dụ đáng chú ý. Chương trình hợp tác được công bố năm 2025, hướng tới ứng dụng công nghệ cho các môn như bắn súng, bắn cung, taekwondo và boxing.

Đây là hướng đi có tiềm năng, bởi AI và phân tích dữ liệu có thể hỗ trợ đánh giá kĩ thuật, phát hiện sai lệch động tác và cung cấp thêm cơ sở cho việc điều chỉnh huấn luyện. Dẫu vậy, cần phân biệt giữa kí kết hợp tác, triển khai thử nghiệm và chứng minh hiệu quả thực tế. Một dự án chỉ có thể được xem là thành công khi công nghệ được sử dụng thường xuyên, cải thiện được quy trình chuyên môn và tạo ra những kết quả có thể đo lường.

Thực tế theo khảo sát của phóng viên Một Thế Giới, nhiều HLV, VĐV đều khẳng định chưa thấy những ứng dụng KH-CN vào thực tiễn tập luyện, thi đấu, dinh dưỡng, đặc biệt là quá trình hồi phục.

nguyen-thi-tam.jpg
Nguyễn Thị Tâm chấp nhận thua ĐKVĐ Olympic Wu Yu (Trung Quốc) trong trận chung kết môn boxing Asiad 20. Ảnh: Bùi Lượng

Nữ võ sĩ Nguyễn Thị Tâm vừa giành tấm HCB boxing lịch sử tại Asiad 20 bộc bạch: “Chúng tôi vẫn tập luyện như bình thường, xem video, tua chậm lại các đòn đánh của đối thủ để phân tích. Về quá trình hồi phục, sau mỗi trận đấu tôi tự thả lỏng, tự căng ép chứ cũng không có bác sĩ hỗ trợ. Đoàn đi có 6 nhân viên y tế nên cũng quá ít, không thể đáp ứng đủ nhu cầu của VĐV”.

“

Về quá trình hồi phục, sau mỗi trận đấu tôi tự thả lỏng, tự căng ép chứ cũng không có bác sĩ hỗ trợ.

Nữ võ sĩ boxing Nguyễn Thị Tâm

Thành công của Nguyễn Thị Tâm khi thắng nhà vô địch thế giới Alua Balkibekova (Kazakhstan) có thể coi là thành công ngoài mong đợi. Và nếu được phục hồi tốt sau từng trận đấu, biết đâu Tâm có thể làm nên kì tích trước ĐKVĐ Olympic Wu Yu (Trung Quốc) trong trận chung kết (?!).

Trả lời phỏng vấn phóng viên Một Thế Giới về tầm quan trọng của việc hồi phục trong thể thao thành tích cao, BSCKII Ngô Thành Ý - Phó khoa Điều trị theo yêu cầu và Y học thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM) cho biết: Để chạm tới đỉnh cao, VĐV trước hết phải ở trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh. Việc ép bản thân thi đấu liên tục khi nền tảng thể lực chưa hồi phục hoàn toàn chắc chắn sẽ đẩy người tập vào ‘thế chân tường’, khiến thành tích tụt dốc không phanh”.

“

"Việc ép bản thân thi đấu liên tục khi nền tảng thể lực chưa hồi phục hoàn toàn chắc chắn sẽ đẩy người tập vào ‘thế chân tường’, khiến thành tích tụt dốc không phanh".

BSCKII Ngô Thành Ý - Phó khoa Điều trị theo yêu cầu và Y học thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115

Theo bác sĩ Ngô Thành Ý, sự chủ quan trong việc đánh giá mức độ hồi phục của các nhóm cơ đặc thù theo từng bộ môn sẽ lập tức biến những vùng nhạy cảm này thành ‘gót chân Achilles’. Hiệu suất vận động bị bẻ gãy ngay trong thời khắc quyết định do khả năng chịu đựng suy giảm nghiêm trọng, khiến cơ thể không thể đáp ứng được cường độ va chạm và bứt tốc dồn dập tại các giải đấu lớn. Hậu quả của quá trình lỗi nhịp này không chỉ là cảm giác mỏi cơ đơn thuần, mà là sự tàn phá ngầm từ sâu bên trong hệ thống sinh học.

Nguy hiểm hơn, sự sa sút thể chất này nhanh chóng kéo theo những hệ lụy tinh thần đáng sợ. Khi cơ thể bất lực trong việc tự chữa lành, VĐV dễ rơi vào trạng thái hoang mang, lo âu kéo dài. Họ dần hình thành tâm lí sợ hãi, không dám vận động hết biên độ vì ám ảnh tái phát chấn thương. Rào cản tinh thần này gián tiếp làm teo cơ, kéo dài thời gian dưỡng bệnh và cắt đứt hoàn toàn cơ cơ hội trở lại đường đua, sàn đấu. Khối lượng huấn luyện quá mức, dinh dưỡng lệch chuẩn và áp lực thành tích đã tạo nên một vòng xoáy độc hại: Kiệt sức dẫn đến phục hồi kém, và phục hồi kém lại tiếp tục chôn vùi thành tích thi đấu.

bac-si-ngo-thanh-y.jpg
BSCKII Ngô Thành Ý - Phó khoa Điều trị theo yêu cầu và Y học thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115.

“Để cứu vãn tình thế, y học thể thao hiện đại ngày nay đã bước qua thời kì áp dụng các công thức phục hồi chung chung, đại trà. Giới chuyên môn bắt buộc phải sử dụng các giải pháp cá nhân hóa cực kì khắt khe. Từ việc xét nghiệm máu, kiểm tra chức năng gan, thận, tim mạch cho đến chụp cộng hưởng từ (MRI), tất cả đều nhằm đo lường chuẩn xác từng tổn thương cơ khớp”, bác sĩ Ngô Thành Ý chia sẻ.

Bên cạnh việc áp dụng cấp bách các liệu pháp tiên tiến như thủy liệu pháp, oxy cao áp hay can thiệp thuốc bổ trợ đúng luật, chìa khóa cốt lõi nằm ở mối liên kết “tam giác” chặt chẽ giữa HLV, bác sĩ và VĐV.

“Thay vì để người tập tự bơi giữa làn sóng thông tin sai lệch trên mạng, cả ba bên cần ngồi lại để điều chỉnh giáo án huấn luyện theo thời gian thực dựa trên diễn biến thể trạng. Sự kiên nhẫn tuyệt đối và tuân thủ phác đồ chuyên khoa chính là tấm lá chắn tối ưu bảo vệ các ngôi sao thể thao, giúp họ cải thiện thành tích; đồng thời tránh khỏi vết xe đổ của sự suy kiệt thể trạng, sa sút phong độ”, bác sĩ Ý nhấn mạnh.

Đầu tư đúng, người đúng, đo hiệu quả thật

Vì vậy, thay vì chạy theo số lượng dự án, TTVN cần cơ chế đánh giá độc lập, xác định rõ mục tiêu, tiến độ và tiêu chí đầu ra của từng chương trình ứng dụng công nghệ.

Để KH-CN trở thành động cơ phát triển thể thao thành tích cao, trước hết cần đầu tư có trọng điểm. Những môn được ưu tiên nên được lựa chọn dựa trên tiềm năng huy chương, khoảng cách thành tích với nhóm dẫn đầu, chất lượng lực lượng VĐV và khả năng cải thiện nhờ ứng dụng KH-CN.

Bắn súng, bơi lội, điền kinh, cử tạ và một số môn võ có thể nằm trong nhóm được xem xét, nhưng không nên áp dụng một công thức đầu tư giống nhau cho tất cả. Mỗi môn có đặc thù riêng: Bắn súng cần phân tích độ ổn định và kiểm soát vận động; bơi lội chú trọng cơ sinh học, thủy động lực học và phân bổ sức lực; điền kinh cần dữ liệu về tốc độ, tải vận động và khả năng phục hồi. Đầu tư hiệu quả phải bắt đầu từ bài toán thành tích cụ thể của từng đội tuyển, không phải từ danh mục thiết bị cần mua.

Song song với thiết bị là bài toán nhân lực. TTVN cần phát triển đội ngũ bác sĩ thể thao, chuyên gia sinh lí vận động, dinh dưỡng, cơ sinh học, phục hồi chức năng và phân tích dữ liệu. HLV cũng cần được đào tạo để hiểu và sử dụng kết quả phân tích. Nếu chuyên gia chỉ cung cấp báo cáo còn HLV không thể chuyển hóa thành giáo án, công nghệ sẽ khó phát huy giá trị.

Một hướng đi quan trọng khác là mở rộng hợp tác công - tư, kết nối cơ quan quản lí, doanh nghiệp công nghệ, trường đại học, bệnh viện và viện nghiên cứu. Nhà nước giữ vai trò định hướng, đầu tư nền tảng và bảo đảm các môn trọng điểm được tiếp cận nguồn lực cần thiết; doanh nghiệp đóng góp giải pháp công nghệ; các cơ sở nghiên cứu hỗ trợ kiểm chứng phương pháp và đào tạo nhân lực. Những thỏa thuận hợp tác cần đi kèm mục tiêu rõ ràng, cơ chế chia sẻ dữ liệu an toàn và tiêu chí đánh giá hiệu quả.

Lộ trình triển khai nên bắt đầu bằng chuẩn hóa dữ liệu và lựa chọn một số đội tuyển thí điểm, sau đó đánh giá độc lập trước khi mở rộng. Các chỉ số cần theo dõi không chỉ là huy chương, mà còn gồm mức độ cập nhật hồ sơ VĐV, khả năng ứng dụng dữ liệu trong quyết định huấn luyện, tình trạng chấn thương, thời gian hồi phục và mức cải thiện thành tích cá nhân.

Với những kết quả tại các kì Olympic, Asiad trong khoảng 10 năm qua, trong đó nổi bật nhất là tấm HCV Olympic Rio 2016 của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh và gần nhất là HCV của xạ thủ Phạm Quang Huy tại Asiad 19, có thể thấy TTVN không thiếu những VĐV giàu nghị lực, ý chí vượt khó. Điều cần thiết là bổ sung cho họ một hệ thống khoa học đủ mạnh, hoạt động liên tục và có khả năng hỗ trợ những quyết định chuyên môn của HLV một cách chính xác hơn.

Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi dữ liệu đi vào sân tập, công nghệ được sử dụng trong từng chu kỳ chuẩn bị và kết quả đầu tư được kiểm chứng bằng tiến bộ thực chất. Đó cũng là con đường để TTVN chuyển từ tư duy chạy theo thành tích trước mắt sang xây dựng năng lực cạnh tranh bền vững trên đấu trường châu lục và thế giới.

Ông Nguyễn Hồng Minh - Trưởng đoàn TTVN tại Asiad 20: “Các quốc gia có nền thể thao phát triển áp dụng rất sâu các phương pháp đo lường thể lực, theo dõi các chỉ số sinh hóa, dinh dưỡng cá thể hóa, phục hồi cơ bắp, phòng tránh chấn thương và hỗ trợ tâm lí. Nhờ đó, VĐV có thể duy trì thể trạng và phong độ tốt trong suốt quá trình thi đấu. Trong khi đó, hệ thống khoa học hỗ trợ của chúng ta vẫn còn hạn chế. Nhiều VĐV vẫn dựa chủ yếu vào nỗ lực cá nhân và ý chí, trong khi thiếu những công cụ hỗ trợ hiện đại để phục hồi, tái tạo năng lượng và kiểm soát trạng thái cơ thể. Ở những giải đấu có mật độ thi đấu dày như Asiad, yếu tố này ảnh hưởng rất lớn tới thành tích”.

Ông Nguyễn Hồng Minh - Trưởng đoàn TTVN tại Asiad 20. Ảnh: TTVN
Ông Nguyễn Hồng Minh - Trưởng đoàn TTVN tại Asiad 20.

HLV đội tuyển TDDC Việt Nam Trương Minh Sang trao đổi với Một Thế Giới:

“So với thời chúng tôi còn thi đấu, các VĐV ngày nay đã được quan tâm hơn nhiều về trang thiết bị tập luyện, dinh dưỡng… Điều HLV, VĐV chúng tôi mong muốn là TTVN sớm có khu hồi phục khép kín chuyên nghiệp (xông hơi, ngâm nóng, lạnh... )

Về những ứng dụng KH-CN, điều thấy rõ nhất là ứng dụng công nghệ hình ảnh 3D do Nhật Bản phát triển, Liên đoàn TDDC thế gới đã ứng dụng, các HLV, VĐV trên thế giới cũng đã đưa vào để phân tích động tác kỹ thuật. Dựa trên hình ảnh 3D tiêu chuẩn đã có sẵn, chúng tôi đối chiếu vào video quay VĐV tập luyện để đánh giá xem động tác của VĐV tốt chưa, góc độ này không bị trừ điểm, góc độ kia sẽ bị trừ điểm… để kịp thời chỉnh sửa, nhắc nhở VĐV ngay trong buổi tập. Tất nhiên, hình ảnh 3D tiêu chuẩn đó cũng mang tinh chất tham khảo, mình cũng không thể ứng dụng hoàn toàn cho VĐV của mình, vì mỗi VĐV có thể trạng, năng lực khác nhau.

hlv-truong-minh-sang.avif
HLV đội tuyển TDDC Việt Nam Trương Minh Sang.

So với thời chúng tôi tập luyện, thi đấu thì đây là bước tiến dài. Trước đây, chúng tôi chỉ có chiếc máy quay truyền thống, màn hình rất nhỏ với hình 2D bị giới hạn góc nhìn, dễ vỡ nét khi VĐV thực hện các động tác xoay lật cực nhanh. Trước đây, quay xong hết rồi, về nhà mổ băng rồi mới chiếu lên để rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, rất tốn thời gian lại không đạt hiệu quả cao. Hiện nay, với chiếc điện thoại, iPad có cài phần mềm, chúng tôi có thể quay chậm chi tiết từng giai đoạn, động tác kĩ thuật của VĐV, và ngay lập tức, HLV và VĐV cùng xem lại để cùng chỉnh sửa lỗi kĩ thuật, tối ưu hóa độ an toàn, giảm thiểu tối đa rủi ro chấn thương khi thực hiện các bài thi có độ khó cao”.

“Nữ hoàng tốc độ” Vũ Thị Hương - người từng giành HCB 200m và HCĐ 100m tại Asiad 16 (Quảng Châu 2010) trao đổi với Một Thế Giới:

“Chưa cần nhìn xa tới Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ cần nhìn ‘hàng xóm’ Thái Lan, cách đây 20 năm, thời tôi còn thi đấu họ đã khác xa với chúng ta ở sự chuyên nghiệp và một đội ngũ hùng hậu chuyên gia, bác sĩ, trợ lý HLV, HLV… mỗi khi VĐV đi thi đấu quốc tế. Khoảng chục năm qua, tôi đã sang Australia lập gia đình, định cư và cảm nhận rõ y học, dinh dưỡng, phục hồi hay KH-CN của họ thuộc tốp hàng đầu thế giới.

Điều dễ nhận thấy nhất là thể thao phong trào ở Australia. Tại các trường học, hằng năm đều tổ chức hội thao từ lớp lá tức là trước khi vào lớp 1. Nghĩa là từ khi con còn rất nhỏ, cha mẹ nếu có điều kiện sẽ đầu tư cho con chơi thể thao. Những bạn nhỏ đam mê và có năng khiếu thể thao, thì chỉ đi học 1 lần/tuần với môn quan trọng, thời gian còn lại học tại nhà và dành nhiều thời gian cho thể thao.

vthu.jpg.webp
“Nữ hoàng tốc độ” Vũ Thị Hương.

Mọi khu dân cư đều có sân chơi dành riêng cho các môn thể thao, tổ chức liên tục các giải phong trào. Australia luôn khuyến khích mọi người chơi thể thao từ nhỏ cho tới già. Theo quan sát của tôi thì chiếc đồng hồ thông minh để theo dõi nhịp tim và mức độ vận động đã trở nên quá quen thuộc với người tập thể thao. Tôi cũng thấy họ dùng AI trong việc phân tích dinh dưỡng và mức độ vận động dựa trên chiều cao, cân nặng, độ tuổi và môn thể thao của mỗi người. Đặc biệt, người Australia rất chú trọng đến sự an toàn, nên họ ưu tiên sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ tập luyện khoa học, hiệu quả và an toàn hơn”.

Chính Minh - Bùi Tú - Hồ Quang