Thể thao

TTVN và bài học Asiad 20: Khi thể thao đỉnh cao là thi đấu bằng KH-CNKì 1: Asiad 20 và khoảng cách công nghệ của TTVN

Bùi Tú - Chính Minh • 10/10/2026 11:07

Kết thúc Asiad 20 (Nhật Bản), ông Nguyễn Hồng Minh, Phó cục trưởng Cục TDTT Việt Nam, Trưởng đoàn thể thao Việt Nam (TTVN) nhìn nhận: "Khoảng cách về chuyên môn, công nghệ, khoa học và y học thể thao của chúng ta so với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã được bộc lộ rõ hơn”.

Tại Asiad 20, TTVN giành được 3 HCV, trong đó 2 HCV cầu mây - môn nằm ngoài chương trình thi đấu Olympic và karate (mới 01 lần được đưa vào thi đấu tại Olympic Tokyo 2020). Thành tích này chưa đạt chỉ têu 4-6 HCV đề ra và TTVN xếp thứ 5 Đông Nam Á (trong khi SEA Games vẫn thường nằm trong tốp đầu).

Trưởng đoàn TTVN Nguyễn Hồng Minh khi trả lời báo chí đã nêu rõ một trong những nguyên nhân thất bại là: “Asiad là đấu trường có trình độ rất cao, tiệm cận Olympic, với sự góp mặt của nhiều vận động viên (VĐV) hàng đầu thế giới. Khi các cường quốc thể thao như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác đưa đến Đại hội những VĐV có trình độ rất cao, khoảng cách về chuyên môn, công nghệ, khoa học và y học thể thao cũng được bộc lộ rõ hơn”.

Tạp chí Một Thế Giới thực hiện loạt bài phân tích rõ Việt Nam tụt hậu ở những khoa học, công nghệ gì: Phương pháp huấn luyện, máy móc, thiết bị, AI hay y sinh, dinh dưỡng...?

Kì 1: Asiad 20 và khoảng cách công nghệ của TTVN

Ba huy chương vàng (HCV) tại Asiad 20 không phải kết quả có thể phủ nhận nỗ lực của các VĐV Việt Nam. Nhưng rõ ràng có một vấn đề đáng suy nghĩ đối với TTVN: Trong khi thể thao châu Á ngày càng dựa nhiều vào khoa học, dữ liệu và công nghệ để tối ưu thành tích, TTVN vẫn còn khoảng cách đáng kể trong việc biến những công cụ ấy thành lợi thế trên sân đấu.

Asiad 20: Khi thành tích SEA Games không phải là thước đo đủ mạnh

Đoàn thể thao Việt Nam khép lại Asiad 20 tại Aichi-Nagoya với 3 HCV, 3 HCB và 19 HCĐ, đứng thứ 20 toàn đoàn và thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á, sau Thái Lan (18 HCV, 13 HCB, 21 HCĐ), Malaysia(9, 7, 16), Indonesia (5, 11, 23) và Philippines (4, 9, 16). Thành tích này không đạt mục tiêu tối thiểu 4 HCV mà đoàn đã đặt ra trước Đại hội.

karate-hcv-asiad-20.webp
Ông Nguyễn Hồng Minh trao thưởng cho đội nữ kata giành HCV đầu tiên cho TTVN tại Asiad 20. Ảnh: Bùi Lượng

Ba HCV của Việt Nam thuộc về karate và cầu mây. Trong đó, cầu mây đóng góp hai HCV ở nội dung đôi nữ và đồng đội bốn người nữ; còn karate giành HCV nội dung biểu diễn quyền (kata) đồng đội nữ. Đây đều là những thành tích đáng ghi nhận, phản ánh sự chuẩn bị và năng lực cạnh tranh của các VĐV Việt Nam ở những môn thế mạnh. Tuy nhiên, xét từ góc độ chiến lược Olympic, cơ cấu huy chương ấy lại đặt ra nhiều câu hỏi. Cả ba HCV đều không đến từ môn đang nằm trong chương trình Olympic Los Angeles 2028. Karate từng xuất hiện tại Tokyo 2020 nhưng không có mặt ở Paris 2024 và Los Angeles 2028, trong khi cầu mây chưa phải môn Olympic.

Đây chính là điểm khiến Asiad 20 trở thành một phép thử quan trọng. Thành tích tại SEA Games - nơi Việt Nam thường xuyên nằm trong nhóm dẫn đầu - không thể phản ánh đầy đủ năng lực cạnh tranh khi bước lên sân chơi châu lục. Tại Asiad, các môn Olympic có sự hiện diện của những nền thể thao hàng đầu thế giới và châu Á, nơi khoảng cách về đầu tư, hệ thống huấn luyện, khoa học thể thao và nguồn lực VĐV được thể hiện rõ hơn.

Những môn từng được kỳ vọng đem về HCV cho Việt Nam như bắn súng, điền kinh, rowing hay canoeing đều không đạt mục tiêu. Bắn súng, chẳng hạn, không bảo vệ được HCV 10m súng ngắn hơi nam từng giành tại Asiad 19 và chỉ có một HCĐ. Trong khi đó, Trịnh Thu Vinh, một trong những niềm hy vọng lớn, không vượt qua vòng loại 10m súng ngắn hơi nữ và đứng thứ tư ở nội dung 25m súng ngắn thể thao.

trinh-thu-vinnh.jpg
Xạ thủ Trịnh Thu Vinh không thể giành huy chương cá nhân Asiad 20. Ảnh: Bùi Lượng

Từ đó, nhận định của Trưởng đoàn Nguyễn Hồng Minh về những điểm nghẽn của TTVN càng đáng chú ý. Vấn đề không đơn thuần là VĐV thiếu ý chí hay HLV thiếu kinh nghiệm. Khi trình độ thi đấu ngày càng sít sao, thành tích được quyết định bởi những phần rất nhỏ: Khả năng duy trì thể lực, tốc độ hồi phục, kiểm soát chấn thương, dinh dưỡng, điểm rơi phong độ và khả năng phân tích đối thủ.

Khoảng cách không chỉ nằm ở máy móc, thiết bị

Trong thể thao đỉnh cao hiện đại, khoa học không còn là phần việc đứng bên ngoài sân tập. Dữ liệu từ các buổi tập có thể giúp HLV biết VĐV đang chịu tải ở mức nào; các chỉ số sinh lí và sinh hóa hỗ trợ đánh giá trạng thái cơ thể; hệ thống phân tích chuyển động giúp phát hiện những sai lệch kỹ thuật mà mắt thường khó nhận ra; còn dữ liệu về giấc ngủ, dinh dưỡng và phục hồi giúp điều chỉnh giáo án theo từng cá nhân.

Điều quan trọng hơn là các dữ liệu ấy phải được sử dụng liên tục, trở thành một phần của chu trình huấn luyện. Nếu thiết bị chỉ xuất hiện trong một đợt kiểm tra hoặc nghiên cứu, giá trị của nó sẽ rất hạn chế.

Đây cũng là nơi TTVN cần nhìn thẳng vào khoảng cách của mình. Những bước khởi động về khoa học thể thao đã có: Tháng 1/2025, Đại sứ quán Pháp phối hợp với Đại học Nantes giới thiệu với ngành TDTT Việt Nam phần mềm phân tích dữ liệu VĐV đã được áp dụng tại nhiều nước châu Âu; đầu tháng 7/2025, Cục TDTT Việt Nam kí thỏa thuận hợp tác với công ty DreaMaX (có trụ sở ở Hà Nội) về ứng dụng AI trong huấn luyện; tháng 1/2026, Cục TDTT Việt Nam làm việc với tập đoàn Konica Minolta (Nhật Bản) về hợp tác nâng cao chất lượng y học thể thao, tập trung vào công nghệ siêu âm cơ xương khớp, đào tạo kỹ thuật và hệ thống lưu trữ hình ảnh PACS để theo dõi lịch sử chấn thương của VĐV từ quá trình tập luyện đến điều trị; tháng 3/2025, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam phối hợp tổ chức khóa đào tạo Y học thể thao - dinh dưỡng thể thao với 72 học viên…

Nhưng việc đưa kết quả nghiên cứu, dữ liệu và thiết bị chuyên dụng vào hoạt động huấn luyện thường xuyên vẫn chưa tạo thành một hệ thống đồng bộ. Trong không ít trường hợp, kinh nghiệm của HLV vẫn giữ vai trò rất lớn trong việc đánh giá thể trạng, điều chỉnh bài tập và xác định thời điểm thi đấu.

Đại diện lãnh đạo Cục TDTT Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ Dreamax đạt được thoải thuận ký kết, hợp tác thành công. Ảnh- tdtt.gov.vn
Đại diện lãnh đạo Cục TDTT Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ Dreamax đạt được thoả thuận ký kết, hợp tác đầu tháng 7/2025. Ảnh: tdtt.gov.vn

Kinh nghiệm không phải là điều cần loại bỏ. Ngược lại, ở thể thao thành tích cao, kinh nghiệm của HLV vẫn cực kì quan trọng. Vấn đề là kinh nghiệm cần được bổ sung bằng dữ liệu thay vì đứng một mình.

Một HLV có thể nhận thấy VĐV đang xuống sức, nhưng hệ thống theo dõi khoa học giúp trả lời chính xác hơn: Xuống sức ở mức nào, nguyên nhân do tải tập luyện, giấc ngủ, dinh dưỡng hay chấn thương tiềm ẩn, và cần bao nhiêu thời gian để hồi phục.

Khoảng cách công nghệ không chỉ là Việt Nam thiếu một chiếc máy đo hiện đại so với đối thủ mà điều lớn hơn nằm ở khả năng xây dựng một hệ sinh thái trong đó chuyên gia khoa học thể thao, bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng, chuyên gia dữ liệu và HLV cùng tham gia vào quá trình chuẩn bị cho VĐV.

Bảng tổng sắp huy chương ASIAD 20 cho thấy vấn đề này cần được nhìn từ góc độ chiến lược. Việt Nam vẫn có những VĐV đủ khả năng cạnh tranh huy chương châu Á, nhưng lực lượng ở các môn Olympic chưa đủ rộng. Ba HCV chủ yếu đến từ những môn thế mạnh truyền thống, trong khi nhiều môn Olympic được kỳ vọng vẫn chưa tạo được đột phá.

Từ “có công nghệ” đến “dùng công nghệ để giành huy chương”

Bài toán của TTVN sau Asiad 20 do vậy không nên được giải bằng việc mua thêm thiết bị. Một phòng lab hiện đại sẽ không tạo ra huy chương nếu thiếu chuyên gia đủ khả năng đọc dữ liệu. Một hệ thống camera phân tích chuyển động cũng không nhiều ý nghĩa nếu kết quả phân tích không được chuyển thành bài tập cụ thể. Dữ liệu về phục hồi cũng không giúp ích nếu giáo án vẫn được xây dựng theo một công thức giống nhau cho nhiều VĐV.

Điều cần thiết là chuyển từ tư duy “trang bị công nghệ” sang “vận hành thể thao bằng khoa học”. Mỗi VĐV trọng điểm cần có hồ sơ dữ liệu dài hạn về thể lực, kỹ thuật, chấn thương, dinh dưỡng và khả năng hồi phục. Những dữ liệu ấy phải được cập nhật trong cả chu kì chuẩn bị, thay vì chỉ được thu thập trước một giải đấu lớn. Cùng với đó là sự kết nối thực chất hơn giữa các trung tâm huấn luyện, đội tuyển, bệnh viện thể thao, trường đại học và viện nghiên cứu. Nếu các nguồn lực này hoạt động rời rạc, công nghệ rất khó tạo ra tác động thực tế. Ngược lại, khi dữ liệu được thu thập, phân tích và phản hồi trực tiếp cho HLV, khoa học mới thực sự trở thành một thành phần của thành tích.

cau may gianh HCV
Các "cô gái vàng" cầu mây đã giành 2 HCV tại Asiad 20. Ảnh: TTVN

Asiad 20 không phải bằng chứng rằng TTVN không có khả năng cạnh tranh. Ba HCV của cầu mây và karate cho thấy Việt Nam vẫn có những thế mạnh đủ sức đứng trên bục cao nhất châu lục. Nhưng chính cơ cấu của ba tấm HCV ấy lại nhắc nhở rằng mục tiêu lớn hơn phải là xây dựng năng lực cạnh tranh ở những môn có giá trị Olympic.

Nếu SEA Games là nơi kiểm chứng vị thế khu vực, thì Asiad mới là thước đo rõ hơn về khả năng cạnh tranh của TTVN với những nền thể thao lớn. Và khi cuộc cạnh tranh ấy ngày càng được quyết định bởi dữ liệu, khoa học phục hồi, phân tích chuyển động, dinh dưỡng và công nghệ huấn luyện, khoảng cách cần thu hẹp không chỉ nằm trên bảng huy chương. Đó còn là khoảng cách trong cách TTVN tạo ra, sử dụng và biến dữ liệu thành quyết định để giành huy chương.

HLV điền kinh Trần Văn Sỹ - người thầy của “cô gái thép” Nguyễn Thị Oanh chia sẻ với Một Thế Giới: “Nhiều năm qua, chúng tôi mới chỉ ứng dụng được đồng hồ thông minh Garmin đeo tay để theo dõi nhịp tim, quãng đường di chuyển, calo tiêu thụ, lượng axit lactic… của VĐV khi tập luyện, thi đấu. Còn nói về công nghệ hiện đại liên quan tới cơ xương khớp… chúng tôi mới chỉ điều chỉnh cho VĐV dựa trên kinh nghiệm. Trong thời gian tới, TTVN nói chung và điền kinh Việt Nam nói riêng cần phải áp dụng nhiều hơn vào công tác huấn luyện. Vấn đề không chỉ là có máy móc mà còn cần chuyên gia giỏi sử dụng máy móc để phân tích xem VĐV thiếu gì về y sinh, dinh dưỡng để bổ sung kịp thời.

HLV Trần Văn Sỹ tiết lộ đã cho Nguyễn Thị Oanh tập luyện khắc nghiệt hơn nhiều so với thi đấu. Ảnh- Thanh Niên
HLV điền kinh Trần Văn Sỹ. Ảnh: Báo Thanh Niên

Bản thân tôi cũng chỉ nghe, đọc nhiều về các công nghệ hiện đại của thể thao thế giới (hệ thống camera quay 200 - 500 khung hình/giây kết hợp các thuật toán AI, phân tích chính xác góc gập gối, độ nghiêng khung chậu, thời gian bàn chân chạm đất (Ground Contact Time - GCT). Việc giảm GCT dù chỉ 0,01 giây cũng đủ tạo nên chênh lệch giữa HCV và không có huy chương trong điền kinh; Lót giày VĐV cácnước phát triển cũng tích hợp vô số cảm biến đo chính xác lực giậm nhảy (Ground Reaction Force), phân tích sự mất cân bằng lực giữa chân trái và chân phải để điều chỉnh dáng chạy, tránh lệch cơ…) chứ chưa từng được đến một trung tâm lớn nào trên thế giới để tham khảo học hỏi.

Gần chúng ta là Nhật Bản, nếu TTVN có điều kiện sang đó tập huấn cùng các VĐV nhóm 2 của họ, có được trải nghiệm thực tế ứng dụng khoa học công nghệ vào tập luyện, thi đấu; quá trình hồi phục sau những bài tập nặng, thi đấu… cũng rất tốt. Mình mới nhìn thấy như vậy, chứ muốn làm được như họ, HLV cũng phải được tiếp cận, học hỏi thì mới ứng dụng được. Đó là chưa kể tới việc các nước phát triển cũng ‘giấu bài’ chứ đâu có chia sẻ hết cho mình”.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, HLV đội tuyển bắn súng Việt Nam Trần Quốc Cường cho biết: “So với các nước phát trển ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…, việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào trong tập luyện, thi đấu của chúng ta còn rất hạn chế. Cơ bản nhất là chiếc máy SCATT đo được độ rung động, ổn định của nòng súng. Chiếc máy có thể hiển thị toàn bộ đường đi của nóng súng, trước, trong và ngay sau khi bóp cò dưới dạng đồ thị theo thời gian thực (thường là 1 giây cuối trước khi đạn nổ). Hiện tại, chúng tôi cũng đang đặt mua để sớm có máy SCATT đưa vào tập luyện, điều chỉnh cho các VĐV có được sự ổn định cao nhất khi bước vào thi đấu.

HLV Trần Quốc Cường dẫn dắt xạ thủ Trịnh Thu Vinh. Ảnh- TTVN
HLV Trần Quốc Cường (phải) và xạ thủ Trịnh Thu Vinh. Ảnh: TTVN

Thực tế, với các nước châu Âu, từ 20 năm trước họ đã có hệ thống đo, phân tích từng tư thế của VĐV. HLV không còn chỉ nhìn VĐV bằng mắt thường hay dùng kinh nghiệm cảm tính, mà dựa nhiều vào dữ liệu số hóa trên màn hình để điều chỉnh từng độ mở của bàn chân, góc xoay vai hay điểm tì má của VĐV…”.

infografik-asiad-20-bang-huy-chuong-viet-nam-1791087598941.png.webp

(Còn tiếp - Kì 2: ‘Khoảng trống’ dữ liệu - rào cản lớn của TTVN)

Nổi bật
      Mới nhất
      TTVN và bài học Asiad 20: Khi thể thao đỉnh cao là thi đấu bằng KH-CN Kì 1: Asiad 20 và khoảng cách công nghệ của TTVN
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO