Kinh tế

Thương mại điện tử: Cơ hội, thách thức và định hướng phát triển bền vững

Trung tướng Ngô Quý Đức - Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ – Cứu nạn/BQP • 12/10/2026 10:27

Phát triển thương mại điện tử không chỉ là mở rộng kênh bán hàng mà phải xây dựng một hệ sinh thái thương mại số an toàn, minh bạch, hiện đại và có trách nhiệm.

Thương mại điện tử (TMĐT) là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ qua Internet và các nền tảng số. Trong thời đại số, với sự bùng nổ của điện thoại thông minh, mạng xã hội, thanh toán điện tử, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) và AI tạo sinh, TMĐT đã trở thành động lực cốt lõi của nền kinh tế.

Nó không chỉ thay đổi phương thức mua bán mà còn tái định hình cách doanh nghiệp sản xuất, tiếp thị, quản trị và tiếp cận khách hàng. Doanh nghiệp nhỏ và cá nhân kinh doanh có thể tiếp cận thị trường toàn cầu với chi phí thấp hơn bao giờ hết.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, quy mô thị trường TMĐT Việt Nam năm 2024 ước đạt trên 25 tỷ USD, tăng trưởng bình quân 20-25%/năm, thuộc nhóm 5 quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT nhanh nhất Đông Nam Á. Tỷ lệ người dân sử dụng Internet đạt gần 80%, trong đó hơn 60% tham gia mua sắm trực tuyến. Đây là những con số cho thấy tiềm năng to lớn của thị trường.

Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là những rủi ro ngày càng tinh vi về dữ liệu, an ninh mạng, hàng giả, cạnh tranh, pháp lý và niềm tin. Vì vậy, phát triển TMĐT không chỉ là mở rộng kênh bán hàng mà phải xây dựng một hệ sinh thái thương mại số an toàn, minh bạch, hiện đại và có trách nhiệm.

Những cơ hội lớn của thương mại điện tử trong thời đại số

Mở rộng thị trường, xóa bỏ giới hạn không gian. Doanh nghiệp không còn bị giới hạn bởi địa lý. Một cửa hàng nhỏ cũng có thể tiếp cận khách hàng trong nước và quốc tế qua sàn thương mại điện tử, website, mạng xã hội. TMĐT xuyên biên giới mở ra cơ hội đưa nông sản, sản phẩm làng nghề, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vươn ra thị trường toàn cầu thông qua Amazon, Alibaba, TikTok Shop, Temu, Shein. Đặc biệt, các sản phẩm OCOP (Mỗi xã một sản phẩm) đã tìm được đầu ra ổn định qua các sàn TMĐT. Tính đến hết năm 2024, cả nước có hơn 13.000 sản phẩm OCOP được đưa lên các sàn thương mại điện tử, góp phần nâng cao thu nhập cho hàng triệu hộ nông dân và hợp tác xã.

Giảm chi phí và tối ưu vận hành. Mô hình trực tuyến cho phép hoạt động 24/7, quản lý đơn hàng tự động, giảm chi phí mặt bằng, nhân sự và khâu trung gian. AI, dữ liệu lớn và điện toán đám mây giúp phân tích nhu cầu, dự báo thị trường, quản lý tồn kho và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng. AI tạo sinh còn hỗ trợ viết mô tả sản phẩm, tạo quảng cáo, chatbot tư vấn và virtual try-on (thử đồ ảo).

Tạo ra phương thức kinh doanh mới. Livestream, social commerce, tiếp thị qua KOL/KOC, video ngắn và quick commerce (Thương mại tức thời) đã rút ngắn khoảng cách giữa giải trí, quảng cáo và mua sắm. Một cá nhân có uy tín trên mạng xã hội có thể trở thành "kênh phân phối" đầy sức ảnh hưởng. Đây là cơ hội lớn cho thương hiệu trẻ và cá nhân kinh doanh.

Thúc đẩy thanh toán số và logistics. Sự phát triển của ngân hàng số, ví điện tử, thanh toán không tiền mặt, kho vận và giao hàng nhanh tạo thành hệ sinh thái hỗ trợ thương mại điện tử. Khi thanh toán và giao nhận ngày càng thuận tiện, khoảng cách giữa người bán và người mua được rút ngắn đáng kể. Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong TMĐT đạt trên 70%, với sự tham gia của hơn 50 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Tạo động lực chuyển đổi số cho nền kinh tế. Thương mại điện tử không chỉ tạo ra một kênh bán hàng mới mà còn thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi toàn diện từ quản trị, marketing, thanh toán đến chăm sóc khách hàng. Qua đó, thương mại điện tử có thể trở thành một trong những động lực quan trọng của kinh tế số, đóng góp ngày càng lớn vào GDP quốc gia.

lazada-1.jpg
Với sự bùng nổ của điện thoại thông minh, mạng xã hội, thanh toán điện tử, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo ..., TMĐT đã trở thành động lực cốt lõi của nền kinh tế. Ảnh minh hoạ

Những rủi ro và thách thức

Rủi ro về an ninh mạng và dữ liệu cá nhân. Thông tin về họ tên, địa chỉ, số điện thoại, tài khoản thanh toán và thói quen mua sắm có giá trị rất lớn. Nếu bị đánh cắp hoặc sử dụng trái phép, người tiêu dùng có thể trở thành mục tiêu của lừa đảo, giả mạo và chiếm đoạt tài sản. Doanh nghiệp vì vậy phải coi bảo vệ dữ liệu khách hàng là trách nhiệm cốt lõi, không chỉ là vấn đề kỹ thuật. Theo thống kê của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), năm 2024 ghi nhận hơn 15.000 vụ tấn công mạng nhắm vào các hệ thống thương mại điện tử, gây thiệt hại ước tính hàng nghìn tỷ đồng. Đây là hồi chuông cảnh báo về mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

Hàng giả, hàng nhái và thông tin thương mại thiếu trung thực. Môi trường trực tuyến giúp hàng hóa tiếp cận khách hàng nhanh, nhưng cũng tạo điều kiện cho hàng giả, hàng kém chất lượng, quảng cáo sai sự thật. Người tiêu dùng dễ gặp rủi ro khi mua phải sản phẩm không đúng mô tả, không có nguồn gốc rõ ràng, giao sản phẩm không đủ số lượng hoặc bị chiếm đoạt tiền qua các chiêu trò gian lận. Nếu không kiểm soát tốt, những hiện tượng này sẽ làm suy giảm niềm tin đối với thương mại điện tử.

Gian lận và lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi. Đối tượng xấu có thể giả danh người bán, sàn thương mại điện tử, ngân hàng hoặc đơn vị giao hàng để chiếm đoạt tiền và thông tin cá nhân. Sự phát triển của AI còn khiến hình thức giả mạo hình ảnh, giọng nói và nội dung ngày càng khó nhận biết. Vì vậy, kỹ năng nhận diện lừa đảo của người tiêu dùng trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng.

Cạnh tranh thiếu bình đẳng và sự phụ thuộc vào nền tảng. Các doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận thị trường thông qua nền tảng lớn nhưng đồng thời cũng có nguy cơ phụ thuộc vào thuật toán, chính sách phí, quảng cáo và cơ chế hiển thị của nền tảng. Khi thuật toán thay đổi, doanh số của người bán có thể bị ảnh hưởng mạnh. Đây là thách thức lớn đối với khả năng tự chủ của doanh nghiệp trong môi trường số.

Áp lực cạnh tranh về giá và nguy cơ "chạy theo doanh số". Khuyến mại, giảm giá và livestream có thể thúc đẩy tiêu dùng nhưng cũng dễ dẫn đến cạnh tranh bằng giá, bán hàng thiếu bền vững và tâm lý mua hàng theo cảm xúc. Nếu chỉ chạy theo doanh số mà coi nhẹ chất lượng và thương hiệu, doanh nghiệp khó xây dựng được giá trị lâu dài.

Những vấn đề về pháp lý và trách nhiệm. Thương mại điện tử phát triển nhanh hơn nhiều mô hình kinh doanh truyền thống, tạo ra những vấn đề mới về thuế, bảo vệ người tiêu dùng, quản lý dữ liệu, trách nhiệm của nền tảng và hoạt động xuyên biên giới. Rủi ro về thuế, thủ tục hải quan và tranh chấp thương mại càng lớn hơn. Vì vậy, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng vừa quản lý chặt chẽ, vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.

Rủi ro từ greenwashing và đạo đức kinh doanh. Một số doanh nghiệp quảng cáo "xanh" nhưng không thực chất, gây mất lòng tin. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ người bán nhỏ, chống bóc lột lao động trong chuỗi cung ứng và minh bạch thuế cũng là những thách thức đạo đức cần được quan tâm.

Khoảng cách số và rào cản tiếp cận. Một bộ phận người dân, đặc biệt là người lớn tuổi, người ở vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ TMĐT. Khoảng cách số này nếu không được thu hẹp sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận thị trường và cơ hội kinh doanh.

Thách thức về hạ tầng logistics và "giao hàng chặng cuối". Mặc dù logistics đã có nhiều tiến bộ, nhưng chi phí vận chuyển ở Việt Nam vẫn còn cao so với khu vực (chiếm 15-20% giá thành sản phẩm). Hạ tầng giao thông ở vùng sâu vùng xa còn hạn chế, việc bảo quản hàng hóa nông sản trong quá trình vận chuyển gặp nhiều khó khăn. Đây là một mắt xích quan trọng cần được giải quyết để phát triển TMĐT bền vững.

Giải pháp phát triển an toàn và bền vững

Để TMĐT phát triển an toàn, minh bạch và bền vững, cần triển khai đồng bộ 8 nhóm giải pháp gắn với trách nhiệm của từng chủ thể.

Hoàn thiện thể chế và pháp luật (Nhà nước). Tăng cường quản lý nền tảng, kiểm soát hàng giả, hàng nhái, quảng cáo sai sự thật và bảo vệ người tiêu dùng. Cập nhật quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, thuế TMĐT và trách nhiệm của nền tảng. Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuyên biên giới, thủ tục hải quan và giải quyết tranh chấp thương mại. Cần có cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý thuế, an ninh mạng và xử lý vi phạm. Đồng thời, cần nâng cao mức xử phạt để đủ sức răn đe, yêu cầu các sàn TMĐT chịu trách nhiệm liên đới khi để xảy ra vi phạm.

Tăng cường bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng (Doanh nghiệp, nền tảng). Đầu tư hệ thống bảo mật, xác thực nhiều lớp, kiểm soát truy cập và có phương án ứng phó sự cố. Ứng dụng mô hình Zero Trust và xác thực sinh trắc học trong thanh toán. Coi bảo vệ dữ liệu khách hàng là trách nhiệm cốt lõi, không chỉ là vấn đề kỹ thuật.

Nâng cao năng lực sản xuất gắn với chuỗi TMĐT (Cơ sở sản xuất). Chuẩn hóa quy trình sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO; xây dựng nhật ký sản xuất, kiểm soát chặt vật tư đầu vào. Đầu tư công nghệ truy xuất nguồn gốc (tem QR Code, blockchain) kết nối với sàn TMĐT. Nâng cao năng lực bảo quản, sơ chế, đóng gói phù hợp vận chuyển đường dài. Liên kết chuỗi giá trị giữa hợp tác xã – doanh nghiệp phân phối – sàn TMĐT, ký kết hợp đồng bao tiêu ổn định đầu ra. Ứng dụng cảm biến, IoT, AI vào giám sát sản xuất. Đào tạo kỹ năng số cho người sản xuất.

Phát triển TMĐT xanh (Tất cả các bên). Khuyến khích bao bì tái chế, logistics thân thiện môi trường, minh bạch nguồn gốc và mô hình kinh tế tuần hoàn. Cơ sở sản xuất xử lý chất thải đúng quy định, ủ phân hữu cơ, dùng men vi sinh. Doanh nghiệp phân phối tối ưu vận chuyển, giảm phát thải. Khách hàng ưu tiên sản phẩm xanh. Nhà nước có chính sách ưu đãi cho sản xuất và tiêu dùng xanh.

Nâng cao năng lực số cho doanh nghiệp phân phối. Chuyển từ tư duy "bán hàng trên nền tảng" sang "xây dựng năng lực kinh doanh số bền vững". Đa dạng hóa kênh bán (website riêng, dữ liệu khách hàng riêng) để giảm phụ thuộc vào thuật toán của sàn. Đào tạo nhân sự về marketing, chăm sóc khách hàng và xử lý khủng hoảng truyền thông. Kiểm soát chặt nguồn hàng đầu vào.

Nâng cao kỹ năng số cho người tiêu dùng. Người mua cần biết kiểm tra nguồn gốc sản phẩm, nhận diện tài khoản giả mạo, bảo vệ thông tin cá nhân và không cung cấp mã OTP, mật khẩu hay thông tin tài chính cho bất kỳ ai. Ưu tiên sản phẩm xanh, thân thiện môi trường. Lưu giữ bằng chứng giao dịch và kiên quyết khiếu nại, tố cáo hành vi gian lận.

Xây dựng TMĐT dựa trên niềm tin (Tất cả các bên). Niềm tin phải trở thành tài sản quan trọng nhất của thị trường số. Doanh nghiệp lấy chất lượng hàng hóa, sự minh bạch và trách nhiệm với khách hàng làm nền tảng. Nhà nước có cơ chế xếp hạng tín nhiệm, công khai vi phạm. Khách hàng chủ động phản hồi, đánh giá để xây dựng môi trường mua sắm lành mạnh.

Kết hợp chuyển đổi số với phát triển sản xuất thực chất (Nhà nước, doanh nghiệp). TMĐT chỉ phát triển bền vững khi phía sau nó là sản phẩm có chất lượng, thương hiệu có uy tín và năng lực cung ứng ổn định. Nhà nước cần chính sách khuyến khích sản xuất thực chất, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu.

Phát triển hạ tầng logistics và thu hẹp khoảng cách số. Nhà nước cần đầu tư hạ tầng giao thông, kho bãi, trung tâm logistics tại các vùng kinh tế trọng điểm và vùng sâu vùng xa. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào logistics thông minh, ứng dụng AI và IoT trong quản lý chuỗi cung ứng. Đồng thời, triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng số cho người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, người lớn tuổi; hỗ trợ người dân tiếp cận thiết bị số và dịch vụ Internet với chi phí hợp lý.

spx-2.jpg
TMĐT chỉ phát triển bền vững khi phía sau nó là sản phẩm có chất lượng, thương hiệu có uy tín và năng lực cung ứng ổn định

Mở kênh chuyên mục đấu tranh hàng giả, hàng kém chất lượng, lừa đảo

Đây là giải pháp quan trọng nhằm tạo cơ chế phát hiện, tố giác và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong TMĐT, góp phần làm trong sạch thị trường và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp chân chính.

Thiết lập kênh tố giác đa nền tảng và dễ tiếp cận. Đường dây nóng quốc gia: Duy trì và công bố rộng rãi số điện thoại đường dây nóng (ví dụ: 1900.XXXX) để tiếp nhận phản ánh về hàng giả, hàng nhái, lừa đảo trực tuyến 24/7. Cổng thông tin trực tuyến: Xây dựng cổng chuyên biệt (như trang web của Tổng cục Quản lý thị trường hoặc Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số) cho phép người dân gửi phản ánh, kèm hình ảnh, video, bằng chứng giao dịch. Ứng dụng di động: Phát triển ứng dụng chuyên dụng để người tiêu dùng có thể báo cáo vi phạm chỉ với vài thao tác, tích hợp định vị và mã QR để xác thực sản phẩm. Kênh trên sàn TMĐT: Yêu cầu các sàn TMĐT lớn (Shopee, Lazada, TikTok Shop, Tiki…) thiết lập mục "Báo cáo vi phạm" ngay trên giao diện sản phẩm, cam kết phản hồi trong vòng 24-48 giờ.

Cơ chế phối hợp liên ngành và xử lý nhanh. Đầu mối liên ngành: Thành lập tổ công tác liên ngành (Bộ Công Thương – Bộ Công an – Bộ Thông tin và Truyền thông – Bộ Tài chính – Ngân hàng Nhà nước) để tiếp nhận, phân loại và xử lý thông tin tố giác. Quy trình xử lý khép kín: Từ tiếp nhận, xác minh, xử lý, công khai kết quả, đảm bảo minh bạch và có thời hạn cụ thể cho từng bước. Phối hợp với nền tảng: Yêu cầu các sàn TMĐT cung cấp thông tin người bán khi có yêu cầu từ cơ quan chức năng; tạm khóa hoặc xóa sản phẩm vi phạm trong thời gian xác minh. Xử lý xuyên biên giới: Hợp tác quốc tế để xử lý các đối tượng bán hàng giả, lừa đảo từ nước ngoài nhắm vào người tiêu dùng Việt Nam.

Công khai, minh bạch thông tin vi phạm. Danh sách đen (Blacklist): Công khai danh sách các cá nhân, tổ chức, cửa hàng, tài khoản bán hàng vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm nhiều lần trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý. Danh sách trắng (Whitelist): Xây dựng và công bố danh sách doanh nghiệp, sản phẩm đạt chuẩn, được chứng nhận chất lượng, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng lựa chọn. Bảng xếp hạng tín nhiệm: Đánh giá và xếp hạng mức độ tuân thủ của các sàn TMĐT, người bán dựa trên số lượng phản ánh, tốc độ xử lý khiếu nại và mức độ minh bạch thông tin. Cảnh báo cộng đồng: Thường xuyên phát đi cảnh báo về các thủ đoạn lừa đảo mới, các sản phẩm hàng giả, hàng kém chất lượng đang lưu hành trên thị trường.

Khuyến khích, bảo vệ người tố giác và cơ chế thưởng. Bảo vệ danh tính: Đảm bảo bí mật thông tin cá nhân của người tố giác, có biện pháp bảo vệ khi cần thiết. Cơ chế thưởng: Xem xét trích thưởng một phần từ tiền phạt vi phạm cho người tố giác trung thực, tạo động lực tham gia giám sát cộng đồng. Miễn trừ trách nhiệm: Người tiêu dùng tố giác hành vi vi phạm mà không có động cơ xấu được miễn trừ mọi trách nhiệm pháp lý liên quan.

Đẩy mạnh truyền thông và giáo dục cộng đồng. Chiến dịch truyền thông quốc gia: Tổ chức các chiến dịch như "Nói không với hàng giả", "Tiêu dùng thông thái – Đẩy lùi lừa đảo" trên các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội. Tích hợp vào giáo dục: Đưa nội dung về nhận diện hàng giả, kỹ năng mua sắm an toàn vào chương trình giáo dục phổ thông và các khóa đào tạo nghề. Đào tạo cộng đồng: Tổ chức tập huấn cho người dân, đặc biệt là người lớn tuổi và người ở vùng nông thôn, về cách nhận diện và báo cáo hành vi vi phạm.

Ứng dụng công nghệ trong đấu tranh chống hàng giả, lừa đảo. AI và Big Data: Sử dụng AI để quét, phát hiện sản phẩm vi phạm trên các sàn TMĐT và mạng xã hội; phân tích dữ liệu để nhận diện các đường dây, ổ nhóm lừa đảo. Blockchain truy xuất nguồn gốc: Ứng dụng blockchain để xác thực nguồn gốc sản phẩm, giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra hàng thật – hàng giả. Chữ ký số và xác thực điện tử: Yêu cầu người bán trên các sàn TMĐT phải xác thực danh tính bằng chữ ký số hoặc căn cước công dân gắn chip, giảm thiểu tài khoản ảo.

thuong-mai.jpg
Niềm tin phải trở thành tài sản quan trọng nhất của thị trường số

Trách nhiệm của các bên

Để TMĐT phát triển an toàn và bền vững, cần phân định rõ trách nhiệm của ba chủ thể: nhà sản xuất (tạo ra hàng hóa), doanh nghiệp phân phối (đưa hàng đến người mua) và khách hàng (người tiêu dùng cuối cùng). Mỗi bên có chức năng riêng, không chồng lấn.

Cơ sở sản xuất – Người tạo ra hàng hóa

Chức năng: Sản xuất sản phẩm đúng tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn; chịu trách nhiệm về nguồn gốc và chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Nhiệm vụ cụ thể. Đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn: Tuân thủ VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO; không tồn dư hóa chất độc hại, không dùng chất cấm.

Minh bạch nguồn gốc tại gốc: Dán tem QR Code trên sản phẩm hoặc lô hàng; công bố quy trình sản xuất, hạn sử dụng, chứng nhận liên quan. Cung ứng ổn định: Đảm bảo nguồn hàng, thiết kế bao bì phù hợp vận chuyển đường dài, thân thiện môi trường. Tuân thủ pháp luật về sản xuất: Đăng ký kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ thuế sản xuất, không làm hàng giả, hàng nhái. Sản xuất xanh: Xử lý chất thải đúng quy định, ủ phân hữu cơ, dùng men vi sinh, hạn chế bao bì nhựa dùng một lần. Thu hồi sản phẩm lỗi từ gốc: Khi phát hiện vấn đề chất lượng, có trách nhiệm thu hồi, phối hợp xử lý, không đùn đẩy trách nhiệm.

Doanh nghiệp và quầy bán hàng – Người phân phối

Chức năng: Đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng qua các kênh TMĐT; chịu trách nhiệm về dịch vụ bán hàng và trải nghiệm khách hàng.

Nhiệm vụ cụ thể. Kiểm soát nguồn hàng đầu vào: Chỉ phân phối sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, có chứng nhận từ nhà sản xuất; không tiếp tay tiêu thụ hàng giả, hàng nhái. Chuyển đổi tư duy bán hàng: Xây dựng năng lực kinh doanh số bền vững, lấy khách hàng làm trung tâm; đa dạng hóa kênh bán để giảm phụ thuộc vào thuật toán của sàn. Minh bạch trong giao dịch: Hiển thị đầy đủ tem truy xuất, QR code do nhà sản xuất cung cấp; cam kết giao hàng đúng số lượng, chất lượng; chính sách đổi trả rõ ràng. Nâng cao năng lực số: Đào tạo nhân sự về marketing, chăm sóc khách hàng và xử lý khủng hoảng truyền thông. Hướng dẫn khách hàng: Chủ động giúp khách nhận diện hàng giả và các chiêu trò lừa đảo trực tuyến. Tuân thủ pháp luật về thương mại: Thực hiện nghĩa vụ thuế thương mại, tuân thủ quy định bán hàng TMĐT.

Khách hàng – Người tiêu dùng cuối cùng

Chức năng: Lựa chọn, sử dụng sản phẩm và phản hồi thị trường; chịu trách nhiệm về hành vi tiêu dùng thông thái và tự bảo vệ quyền lợi.

Nhiệm vụ cụ thể. Nâng cao kỹ năng số: Nhận diện hàng thật, hàng giả, các thủ đoạn lừa đảo tinh vi (giả mạo ngân hàng, sàn TMĐT, đơn vị vận chuyển). Bảo vệ dữ liệu cá nhân: Tuyệt đối không cung cấp mã OTP, mật khẩu hay thông tin tài chính cho bất kỳ ai; cẩn trọng khi chia sẻ địa chỉ, số điện thoại trên không gian mạng. Tiêu dùng thông thái và chủ động: Kiểm tra kỹ nguồn gốc, xuất xứ và đánh giá trước khi mua; ưu tiên sản phẩm xanh, thân thiện môi trường. Lưu giữ bằng chứng giao dịch: Kiên quyết khiếu nại, tố cáo hành vi gian lận để tự bảo vệ quyền lợi.

Vai trò của các Hiệp hội và tổ chức xã hội. Bên cạnh Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, cần có sự tham gia của các hiệp hội ngành nghề (như Hiệp hội TMĐT Việt Nam – VECOM) trong việc xây dựng tiêu chuẩn, đào tạo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên. Các tổ chức xã hội cũng cần tham gia vào công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về tiêu dùng an toàn và bền vững.

Trách nhiệm của nền tảng (Platform Accountability). Cần nhấn mạnh hơn trách nhiệm của các sàn TMĐT trong việc kiểm duyệt người bán, thuật toán minh bạch và giải quyết tranh chấp. Hiện tại, các sàn thường đóng vai trò trung gian nhưng lại nắm quyền kiểm soát rất lớn đối với người bán nhỏ. Do đó, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới của nền tảng khi để xảy ra vi phạm, cũng như yêu cầu minh bạch hóa thuật toán và chính sách phí.

Thương mại điện tử là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của nền kinh tế số. Nó mở ra cơ hội chưa từng có để doanh nghiệp mở rộng thị trường, giảm chi phí, đổi mới phương thức kinh doanh và đưa sản phẩm Việt Nam đến với người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Nhưng công nghệ càng phát triển, rủi ro cũng càng tinh vi.

Vì vậy, thước đo của thương mại điện tử không chỉ là doanh số hay số lượng giao dịch, mà còn là mức độ an toàn, minh bạch, niềm tin và giá trị mà nó tạo ra cho xã hội. Trong thời đại số, doanh nghiệp muốn đi xa phải biết tận dụng công nghệ nhưng không được lệ thuộc vào công nghệ; người tiêu dùng muốn hưởng lợi phải biết sử dụng công nghệ nhưng đồng thời phải có kỹ năng tự bảo vệ mình.
Nhà nước cần tạo dựng một môi trường pháp lý thông thoáng nhưng đủ sức bảo vệ thị trường. Thương mại điện tử chỉ thực sự trở thành động lực của nền kinh tế khi công nghệ đi cùng với niềm tin, đổi mới đi cùng với trách nhiệm và tăng trưởng đi cùng với phát triển bền vững.

Trung tướng Ngô Quý Đức - Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ – Cứu nạn/BQP