Công nghệ sinh học và bài toán thương mại hoá trong kỷ nguyên số
Bài: Nam Phong, ảnh: Hà Tuấn•14/10/2026 13:56
Phát triển kinh tế sinh học dựa trên nền tảng công nghệ sinh học đang trở thành động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số. PGS.TS. Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học (VAST) chia sẻ giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa, đưa nghiên cứu từ phòng lab ra thị trường.
Trong bối cảnh kỷ nguyên số và chiến lược phát triển kinh tế xanh, phát triển kinh tế sinh học dựa trên nền tảng công nghệ sinh học được xác định là một trong những trụ cột tăng trưởng chiến lược của Việt Nam. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn từ phòng thí nghiệm ra thị trường, kết nối viện nghiên cứu với doanh nghiệp và tận dụng thời cơ từ các khung pháp lý mới như Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị hay Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi sâu với PGS.TS. Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST). PGS.TS Phí Quyết Tiến mang đến cái nhìn toàn diện từ công nghệ nền tảng sẵn có, ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), cho đến bài toán đào tạo nhân lực liên ngành Bio-IT, bảo mật dữ liệu nguồn gen và chiến lược thu hút nguồn lực đầu tư quốc tế đến năm 2045.
PGS.TS Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học (VAST).
Sở hữu nhiều công nghệ sinh học nền tảng sẵn sàng thương mại hóa
- Thưa Phó Giáo sư, Viện Sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện sở hữu những công nghệ sinh học nền tảng nào sẵn sàng chuyển giao và ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực nông nghiệp thông minh, y sinh và nguyên liệu sinh học mới?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Viện Sinh học kế thừa truyền thống hơn 30 năm nghiên cứu của các thế hệ nhà khoa học sinh học, công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm. Chúng tôi luôn quán triệt quan điểm của Lãnh đạo Viện: khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật thuần túy mà là nền tảng tri thức chiến lược của quốc gia, là gốc rễ để hình thành công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và năng lực tự chủ công nghệ. Từ nền tảng đó, Viện đã tích lũy danh mục công nghệ có chiều sâu theo ba trụ cột, bám sát nhóm “Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến” - nhóm thứ 4 trong 10 nhóm công nghệ chiến lược tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tôi xin đề cập đến 03 hướng nghiên cứu và kết quả theo hướng phát triển công nghệ, sản phẩm chiến lược:
Hướng y sinh và hệ gen người Việt: Viện đã xây dựng cơ sở dữ liệu hệ gen quy mô lớn về đặc điểm di truyền của bệnh nhân Việt Nam, tập trung vào bệnh hiếm, bệnh di truyền và bệnh bẩm sinh như tim bẩm sinh, tăng sản thượng thận bẩm sinh, suy giảm miễn dịch bẩm sinh, loạn dưỡng cơ đai chi, còi xương phụ thuộc vitamin D, suy tuyến yên và một số bệnh cơ tim di truyền. Đáng chú ý, các nhà khoa học của Viện đã phát hiện biến thể mới trên gen ABCA12 liên quan đến bệnh da vảy cá Harlequin ở trẻ sơ sinh, đồng thời xác định các biến thể liên quan đến ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng và bạch cầu cấp dòng lympho. Đây là dữ liệu không thể kế thừa hoàn toàn từ các nghiên cứu hệ gen người trên thế giới, làm nền cho sàng lọc sơ sinh, chẩn đoán trước sinh, tư vấn di truyền và y học chính xác cho người Việt.
Song song, Viện làm chủ công nghệ sàng lọc bằng chip DNA (DNA microarray) phân tích đồng thời nhiều chỉ thị di truyền liên quan đến tính trạng và bệnh học. Công nghệ này đã mở rộng sang chọn giống nông - lâm - thủy sản theo hướng chọn lọc nhờ chỉ thị phân tử và chọn lọc hệ gen, nhằm nhanh chóng xác định các cá thể mang tính trạng ưu việt như sinh trưởng nhanh, kháng bệnh, chịu hạn, chịu mặn. Đây là xu hướng chủ đạo của thế giới và chúng tôi đã nắm giữ công nghệ nền tảng này.
Hướng vi sinh vật và nông nghiệp tuần hoàn: Với nguồn tài nguyên vi sinh vật trong bộ sưu tập khoảng 5.000 chủng được tích lũy từ nghiên cứu, Viện đã phát triển các chế phẩm vi sinh ứng dụng thực tế trong ao nuôi tôm, nuôi cá tra, cá ba sa tại các cơ sở sản xuất thử nghiệm. Kết quả đánh giá cho thấy chế phẩm giúp giảm lượng thức ăn, tăng tốc độ tăng trưởng, giảm dịch bệnh và giảm phụ thuộc vào kháng sinh - yếu tố then chốt để hàng thủy sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Bên cạnh đó là nhóm chế phẩm xử lý ô nhiễm dầu trong đất và trên biển, phục vụ bảo vệ môi trường và kinh tế biển.
Hướng công nghệ vắc-xin thú y: Viện đã bước đầu thử nghiệm thành công ở quy mô phòng thí nghiệm các ứng viên vắc-xin phòng bệnh tiêu chảy cấp ở lợn và vắc-xin phòng các chủng virus cúm gia cầm nguy hiểm như H5N1, H7N9. Định hướng của chúng tôi là nâng cấp lên nền tảng vắc-xin thế hệ mới (tái tổ hợp, tiểu đơn vị, hạt giả virus) - đúng với nhóm sản phẩm vắc-xin thế hệ mới mà danh mục công nghệ chiến lược quốc gia đã xác định.
Cần nói rõ rằng các công nghệ này đang ở những mức độ sẵn sàng khác nhau. Nhóm chế phẩm vi sinh, quy trình giám định ADN và sàng lọc di truyền đã có thể chuyển giao ngay; trong khi nhóm vắc-xin cần doanh nghiệp đồng hành đầu tư ở giai đoạn sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm và đăng ký lưu hành. Việc phối hợp rõ ràng giúp doanh nghiệp đánh giá đúng rủi ro và lựa chọn đúng hình thức hợp tác.
Điểm nghẽn bước qua "thung lũng chết" và đột phá từ khung pháp lý mới
- Nhiều nghiên cứu sinh học có giá trị cao vẫn dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến công nghệ khó bước qua "thung lũng chết" để đến với dây chuyền sản xuất công nghiệp?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Trước hết, cần nhìn nhận đúng sứ mệnh của Viện Sinh học. Thế mạnh của chúng tôi là nghiên cứu cơ bản để tạo ra tri thức mới, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ nền tảng có hàm lượng khoa học cao như vắc-xin, liệu pháp tế bào gốc, chỉnh sửa gen hay khai thác dữ liệu lớn trong tin sinh học. Những kết quả này không được dừng lại ở biên bản nghiệm thu hay cất tủ hồ sơ, mà phải trở thành tài sản trí tuệ làm nền cho các nghiên cứu tiếp nối và là điểm kết nối với doanh nghiệp.
“Thung lũng chết” trong công nghệ sinh học nằm ở khoảng giữa: khi công nghệ đã chứng minh trong phòng thí nghiệm nhưng chưa được kiểm chứng ở quy mô sản xuất thử, khảo nghiệm, thử nghiệm lâm sàng hay đạt chuẩn GMP. Đây là giai đoạn tốn kém và rủi ro nhất nhưng lại thiếu chủ thể đầu tư nhất. Xét trên toàn chuỗi cung ứng khoa học - công nghệ, tôi cho rằng có ba điểm nghẽn chính:
Đầu tư phân tán, manh mún: Nguồn lực bị chia nhỏ cho nhiều hướng, thiếu cơ chế đầu tư đến cùng cho các sản phẩm chủ lực từ nghiên cứu đến thương mại hóa, đặc biệt thiếu hạ tầng dùng chung cho khâu sản xuất thử nghiệm.
Liên kết pháp lý và tổ chức chưa chặt chẽ: Thủ tục định giá, giao quyền, chuyển giao tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước trước đây còn phức tạp, khiến cả nhà khoa học và doanh nghiệp e ngại rủi ro pháp lý. Hiện nay, chúng ta đã có các Luật, Thông tư hướng dẫn, thủ tục thử nghiệm sandbox… nên việc chuyển giao sẽ có nhiều chuyển biến tích cực.
Thiếu cơ chế đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp: Khi bài toán không xuất phát từ nhu cầu thực, sản phẩm dễ lệch pha với thị trường. Cần chuyển mạnh từ tư duy giao nhiệm vụ sang đặt hàng theo kết quả đầu ra, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của chuỗi đổi mới sáng tạo.
Điểm tích cực là hệ thống chính sách hiện nay đã định vị rất rõ hướng đi. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, được Chính phủ cụ thể hóa bằng Chương trình hành động. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ (thay thế Quyết định số 1131/QĐ-TTg) đã nêu rõ các sản phẩm chiến lược của nhóm công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến: vắc-xin thế hệ mới cho người, liệu pháp tế bào, hệ thống sản xuất sản phẩm y tế cá thể hóa ứng dụng in 3D, hệ thống cảm biến sinh học thông minh, giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới tạo ra từ công nghệ tế bào và chỉnh sửa gen. Đó là kim chỉ nam để doanh nghiệp định hướng đầu tư và nhà khoa học định vị sản phẩm. Viện Sinh học đang rà soát toàn bộ danh mục nghiên cứu để tập trung nguồn lực cho các hướng tạo sản phẩm chiến lược.
“
Thung lũng chết’ trong công nghệ sinh học thực chất nằm ở khoảng giữa phòng thí nghiệm và dây chuyền sản xuất công nghiệp. Muốn vượt qua rào cản này, phải chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng theo nhu cầu thực tế và lấy doanh nghiệp làm trung tâm của chuỗi đổi mới sáng tạo.
- PGS .TS Phí Quyết Tiến
- Khung pháp lý như Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 mở ra cơ chế dùng tài sản trí tuệ góp vốn thành lập doanh nghiệp spin-off. Viện đánh giá cơ hội này thế nào?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Đây là cơ hội mang tính bước ngoặt. Để khoa học đi vào thực tiễn, chúng ta cần khung pháp lý đủ rõ, đủ mạnh và đủ an toàn. Lần đầu tiên, các điểm nghẽn thể chế kéo dài đã được tháo gỡ đồng bộ.
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/10/2025) chính thức đưa đổi mới sáng tạo vào phạm vi điều chỉnh; thiết lập cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu (người tuân thủ đúng quy trình, không gian luận được miễn trách nhiệm khi có thiệt hại); cho phép doanh nghiệp trừ chi phí R&D khi tính thuế TNDN; miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ bản quyền kết quả nghiên cứu thương mại hóa và thu nhập của nhà sáng lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cùng với đó, Nghị quyết 57-NQ/TW mở đường cho cơ chế giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho tổ chức chủ trì và cho phép nhà khoa học tham gia góp vốn, quản lý, điều hành doanh nghiệp khởi nguồn.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 (Luật số 131/2025/QH15, thông qua ngày 10/12/2025) chuyển trọng tâm từ bảo hộ sang khai thác và thương mại hóa: tài sản trí tuệ được định giá, mua bán, ghi nhận trong báo cáo tài chính, dùng làm tài sản bảo đảm và góp vốn; thời gian thẩm định nội dung đơn sáng chế rút ngắn từ 18 xuống 12 tháng, có thêm thủ tục rút gọn 3 tháng. Với công nghệ sinh học, đây là thay đổi rất có ý nghĩa.
Lãnh đạo Viện Hàn lâm đã chỉ đạo xây dựng quy chế nội bộ cụ thể để chuyển giao công nghệ hình thành từ nguồn vốn nhà nước ra doanh nghiệp, định hướng chuyển sang mô hình trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược. Ở cấp Viện Sinh học, chúng tôi triển khai ba việc: (i) phân loại và định giá toàn bộ tài sản trí tuệ hiện có; (ii) kiện toàn đầu mối chuyên trách về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; (iii) xây dựng hợp tác thí điểm mô hình đồng phát triển sản phẩm và doanh nghiệp khởi nguồn với cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa Nhà nước, Viện, nhà khoa học và nhà đầu tư. Phương châm là chủ động, quyết liệt nhưng chặt chẽ, đúng pháp luật - bởi bảo vệ được nhà khoa học mới giải phóng được sức sáng tạo của họ.
Ứng dụng Big Data, AI, công nghệ Omics và đào tạo nhân lực Bio-IT
- Để đưa kinh tế sinh học trở thành động lực tăng trưởng mới, Viện tập trung vào những chương trình nghiên cứu và hạ tầng trọng điểm nào?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp khoảng 7% GDP; có ít nhất 500 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó 30-50 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khu vực. Nghị quyết 189/NQ-CP năm 2023 của Chính phủ đã phân vai cụ thể cho các bộ, ngành. Trên cơ sở đó, Viện Hàn lâm giao Viện Sinh học chủ trì xây dựng Chương trình nghiên cứu và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến.
Chương trình tập trung vào các hướng công nghệ lõi: (1) công nghệ tế bào và tế bào gốc; (2) nền tảng nghiên cứu, phát triển vắc-xin; (3) tài nguyên sinh học, ngân hàng gen và cơ sở dữ liệu nguồn gen; (4) công nghệ Omics, tin sinh học và AI để khai thác dữ liệu lớn. Về hạ tầng, chúng tôi ưu tiên đầu tư dài hạn, ổn định cho các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại theo mô hình dùng chung mở cửa cho doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán hiệu năng cao.
“
Chính những bài toán bản địa đặc thù mà thế giới không thể làm thay cùng nguồn dữ liệu và nguồn gen đặc hữu là 'tấm vé' để công nghệ sinh học Việt Nam bước vào chuỗi giá trị toàn cầu ở vị thế đối tác bình đẳng.
PGS. TS Phí Quyết Tiến
Ở tầm chiến lược, VAST đang hoàn thiện Đề án “Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, tầm nhìn đến năm 2045” trình Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, bám sát 9 hướng ưu tiên mũi nhọn. Thủ tướng Chính phủ đã giao Viện Hàn lâm mục tiêu trở thành tổ chức nghiên cứu KH&CN hàng đầu Đông Nam Á vào năm 2030 và đưa các ngành khoa học cơ bản, trong đó có sinh học, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Viện Sinh học xác định đây vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm.
- Việc tích hợp AI, Big Data và công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) giúp rút ngắn thời gian, chi phí nghiên cứu ra sao tại Viện?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Sinh học hiện đại đã thực sự trở thành ngành khoa học dữ liệu. Chi phí giải trình tự hệ gen người đã giảm từ hàng triệu USD xuống còn vài trăm USD; thách thức hiện nay không còn là đọc gen mà là hiểu dữ liệu. Vì vậy, Viện áp dụng cách tiếp cận đa omics (multi-omics), tích hợp hệ gen học (genomics), phiên mã học (transcriptomics), protein học (proteomics), chuyển hóa học (metabolomics) và hệ gen học môi trường (metagenomics). Phân tích dữ liệu đa chiều cho phép nhìn thấy bức tranh tổng thể của các quá trình sinh học.
Hiệu quả thể hiện rõ ở ba điểm:
Chẩn đoán di truyền: Chuyển từ giải trình tự từng gen đơn lẻ sang giải trình tự gen đích, toàn bộ vùng mã hóa (exome) hoặc toàn bộ hệ gen bằng NGS giúp rút ngắn thời gian tìm nguyên nhân bệnh từ nhiều tháng xuống còn vài tuần, phát hiện các biến thể mới mà phương pháp truyền thống bỏ sót.
Khai thác vi sinh vật: Metagenomics cho phép khai thác nguồn gen vi sinh vật chưa nuôi cấy được - vốn chiếm phần lớn trong tự nhiên - giúp sàng lọc enzyme, hoạt chất, chủng có lợi nhanh hơn nhiều lần.
Phát triển sản phẩm: Công cụ AI hỗ trợ dự đoán tác động biến thể di truyền, cấu trúc protein và thiết kế kháng nguyên, giảm đáng kể số vòng thí nghiệm thử - sai trong phát triển vắc-xin và chế phẩm.
Thực tế, Viện đã ứng dụng khai thác dữ liệu lớn vào công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ; phát triển chế phẩm xử lý ô nhiễm dầu; và chế phẩm sinh học cho mô hình nuôi tôm, thủy sản. Đồng thời, chúng tôi tuân thủ quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo: ứng dụng AI trong y tế, công nghệ sinh học liên quan đến con người phải đặt dưới sự giám sát của con người.
- Viện có chiến lược gì để chuẩn bị nguồn nhân lực liên ngành Sinh tin học (Bio-IT) hay quản trị dữ liệu?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Phát triển công nghệ đa ngành là xu hướng tất yếu, nhân lực là yếu tố quyết định. Lãnh đạo Viện Hàn lâm xác định phát triển nguồn nhân lực khoa học trẻ là giải pháp trọng tâm. Nhu cầu này thể hiện rất rõ: trong nông thủy sản, hệ thống cảm biến ghi nhận dữ liệu real-time có thể tự động điều khiển tương tác sinh học (tự bổ sung chế phẩm vi sinh khi chỉ số ô nhiễm tăng, tự điều chỉnh khi H₂S vượt ngưỡng). Trong y sinh, kết hợp cơ sở dữ liệu di truyền dùng chung với đội ngũ tin sinh học giúp chẩn đoán và điều trị chính xác.
Chiến lược nhân lực của Viện gồm bốn nhóm giải pháp:
Đào tạo tại chỗ gắn với nhiệm vụ: Phối hợp với Học viện Khoa học và Công nghệ và Đại học KHCN Hà Nội (USTH) đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ sinh tin học, khoa học dữ liệu sự sống dựa trên bộ dữ liệu thực tế của Viện.
Tổ chức nhóm nghiên cứu liên ngành: Sinh học - tin học - toán học - kỹ thuật, trong đó chuyên gia dữ liệu được ghi nhận là thành viên chủ chốt.
Tận dụng chính sách mới thu hút người giỏi: Áp dụng Nghị định số 179/2026/NĐ-CP về học bổng ngành khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược và cơ chế thu hút nhà khoa học trẻ, nhà khoa học kiều bào.
Hình thành đội ngũ quản trị dữ liệu chuyên nghiệp: Am hiểu chuẩn kỹ thuật, an toàn thông tin và pháp luật về dữ liệu, nguồn gen.
Quản trị dữ liệu nguồn gen quốc tế và chiến lược thu hút đầu tư toàn cầu
- Khi dữ liệu sinh học trở thành "dầu mỏ mới", bài toán bảo mật, quản trị dữ liệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ được Viện thực hiện ra sao?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Chúng tôi xác định: chủ quyền đối với nguồn gen và dữ liệu sinh học là một bộ phận của chủ quyền quốc gia. Viện quản trị vấn đề này trên ba nguyên tắc:
Tuân thủ pháp luật trong nước: Đối với tài nguyên sinh học và nguồn gen, Viện thực hiện nghiêm Luật Đa dạng sinh học, Nghị định số 59/2017/NĐ-CP về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, cùng hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với dữ liệu di truyền người, Viện tuân thủ pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, đạo đức nghiên cứu y sinh và quy định cấm sử dụng trái phép dữ liệu nhạy cảm tại Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
PGS.TS. Phí Quyết Tiến.
“
Trong kỷ nguyên số, sinh học hiện đại đã trở thành ngành khoa học dữ liệu. Khi dữ liệu sinh học trở thành 'dầu mỏ mới', việc làm chủ công nghệ Omics và bảo vệ chủ quyền nguồn gen chính là chìa khóa để kiến tạo giá trị kinh tế bền vững.
Cam kết quốc tế: Thực hiện Nghị định thư Nagoya (đã nội luật hóa bằng Nghị định 59/2017/NĐ-CP). Mọi trao đổi nguồn gen với đối tác nước ngoài phải có sự đồng ý trước (PIC), điều khoản chia sẻ lợi ích (MAT) và thỏa thuận chuyển giao vật liệu (MTA). Chúng tôi cũng theo sát việc chia sẻ lợi ích từ thông tin trình tự số (DSI) do Hội nghị COP16 năm 2024 thành lập Quỹ Cali để giải quyết.
Kỹ thuật và sở hữu trí tuệ: Dữ liệu được phân cấp nhạy cảm, mã hóa, ẩn danh hóa, phân quyền truy cập và lưu trữ trên hạ tầng trong nước; việc khai thác phải qua hội đồng đạo đức và hội đồng khoa học. Về SHTT, Viện thực hiện nguyên tắc đăng ký bảo hộ trước, công bố sau đối với kết quả có khả năng thương mại hóa, tận dụng cơ chế định giá tài sản trí tuệ của Luật SHTT sửa đổi để biến dữ liệu, chủng giống, quy trình thành tài sản góp vốn, chuyển nhượng.
- Từ vị thế đơn vị nghiên cứu hàng đầu, ông đánh giá đâu là cơ hội để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và thu hút đầu tư quốc tế?
PGS.TS Phí Quyết Tiến: Kinh tế sinh học, kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh dựa trên công nghệ sinh học đã trở thành động lực tăng trưởng mới của thế giới. Việt Nam có dư địa lớn: đa dạng sinh học cao, nguồn dược liệu và vi sinh vật phong phú; kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản đạt trên 60 tỷ USD/năm, tạo nhu cầu lớn về chế phẩm sinh học, giống mới và công nghệ chế biến sâu.
Lợi thế khác biệt nhất của Việt Nam là những bài toán bản địa đặc thù thế giới không thể làm thay: phát triển giống cây trồng, vật nuôi bản địa; phòng chống dịch bệnh nhiệt đới; xây dựng dữ liệu di truyền đặc trưng người Việt phục vụ y học chính xác; công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ. Những bài toán thực tiễn này cùng nguồn dữ liệu, nguồn gen đặc hữu là “tấm vé” để Việt Nam bước vào chuỗi giá trị toàn cầu ở vị thế đối tác.
Viện Sinh học hướng tới các mô hình hợp tác: đồng nghiên cứu, đồng sở hữu kết quả với tập đoàn quốc tế; xây dựng phòng thí nghiệm chung; tham gia dự án ODA, hợp tác song phương/đa phương; và mời gọi quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia ngay từ giai đoạn doanh nghiệp khởi nguồn. Nguyên tắc là hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, chia sẻ lợi ích theo đúng Nghị định thư Nagoya, giữ được dữ liệu và tài sản trí tuệ cốt lõi trong nước.