Phố cổ Hội An trước nguy cơ trở thành 'bảo tàng thương mại' vô hồn
Khi những ngôi nhà cổ ngày càng rơi vào tay giới đầu tư, người có tiền đến từ Hà Nội và TP.HCM, phố cổ Hội An đứng trước nguy cơ trở thành một "bảo tàng thương mại" vô hồn.
Khi người phố cổ rời Hội An và làn sóng thâu tóm nhà cổ từ những người nơi khác
Hơn hai thập niên kể từ ngày được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới (1999 - 2026), Hội An vẫn luôn tự hào được vinh danh là một "di sản sống" - nơi kiến trúc, cảnh quan và nhịp đập đời thường của cư dân quyện hòa làm một. Thế nhưng, đằng sau vẻ trầm mặc, rêu phong của những mái ngói âm dương bên dòng sông Hoài, Hội An đang đối diện với một cuộc khủng hoảng thầm lặng nhưng khốc liệt: Sự suy giảm nghiêm trọng của cộng đồng dân cư gốc và sự biến dạng của chức năng ở.
Khi những ngôi nhà cổ ngày càng rơi vào tay giới đầu tư, người có tiền đến từ Hà Nội và TP.HCM, phố cổ đang đứng trước nguy cơ trở thành một "bảo tàng thương mại" vô hồn.

Tại hội thảo khoa học chuyên đề “Phát triển du lịch Đô thị cổ Hội An - Di sản Văn hóa Thế giới trong kỷ nguyên mới”, các chuyên gia văn hóa và nhà quản lý không khỏi trăn trở trước nguy cơ không gian sinh hoạt cộng đồng của Hội An bị thu hẹp, lối sống cư dân bản địa bị biến đổi cùng với sự gia tăng thương mại hóa nơi đây.
Khu vực bảo vệ Di sản Đô thị cổ Hội An rộng 130 ha, trong đó riêng khu vực lõi (Khu vực I) rộng 30 ha tập trung tới 1.175 di tích. Điều đáng nói là hơn 80% số di tích này thuộc sở hữu tư nhân và tập thể. Sức sống của thương cảng cổ từ bao đời nay được neo giữ bởi chính nếp sinh hoạt, khói hương bàn thờ tổ tiên và tiếng cười nói của các thế hệ gia đình bản địa. Tuy nhiên, cấu trúc xã hội ấy đang bị xô lệch dữ dội dưới sức ép của làn sóng thương mại hóa và du lịch đại chúng.
Theo số liệu nghiên cứu được công bố trong các tham luận chuyên sâu, đến năm 2023, khu phố cổ chỉ còn vỏn vẹn hơn 3.000 cư dân sinh sống.

Một thực tế là khoảng 30% chủ nhà trong vùng lõi di tích nay là người đến từ Hà Nội và TP.HCM, trong khi có đến 40% chủ nhà gốc Hội An đã quyết định bán đứt, sang nhượng hoặc cho thuê lại để chuyển ra các khu đô thị mới ở vùng ven sinh sống. Đến năm 2024, số lượng di tích thực tế còn có người ở lại duy trì sinh hoạt gia đình chỉ dao động ở mức khiêm tốn 20 - 30%.
Về vấn đề này, TS. Phạm Thị Thanh Hường (Văn phòng UNESCO tại Việt Nam) chỉ rõ trong tham luận của mình rằng: "Khi nhà ở chuyên hẳn sang kinh doanh, cửa sổ bị thay thế thành cửa đi, vách pa-nô bị tháo bỏ, còn không gian thờ tự, sinh hoạt bị thu hẹp. Nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận sự suy giảm tương tác giữa cộng đồng và du khách cùng nguy cơ mai một thực hành văn hóa truyền thống”.

Sự đứt gãy mô hình ‘nhà - phố - gia đình thương nhân’ bắt đầu xảy ra. Sự thay thế cộng đồng chủ thể bằng những người thuê mua từ nơi khác đến chính là đòn giáng mạnh mẽ nhất vào tính xác thực của di sản.
Đồng quan điểm, ThS. Nguyễn Thị Huệ (Viện Nghiên cứu Văn hóa) cũng khắc họa bức tranh đầy áp lực mà người dân phố cổ đang phải gánh chịu.
Đó không chỉ là gánh nặng tài chính khổng lồ để trùng tu những cấu trúc gỗ lim, mái ngói âm dương theo các quy chuẩn bảo tồn ngặt nghèo trước sự tàn phá của thời gian và mưa lũ miền Trung, mà còn là sự cám dỗ của dòng tiền tỉ từ thị trường bất động sản.
Trước những lời đề nghị mua bán, sang nhượng với giá trị khổng lồ, nhiều gia đình vì áp lực sinh kế đã ngậm ngùi buông tay di sản của tổ tiên.

Kết quả là những nếp nhà cổ sau khi đổi chủ hoặc cho thuê đều được phác thảo lại thành các cửa hàng thời trang cao cấp, tiệm đồ lưu niệm, quán bar hay nhà hàng ồn ào.
Cư dân gốc - những người giữ hồn cho phố - vắng bóng dần, nhường chỗ cho nhân viên thời vụ. Đô thị cổ dần biến thành một "lớp vỏ kiến trúc hào nhoáng" nhưng trống rỗng về mặt văn hóa tinh thần.
“Kiến trúc vật thể dẫu có được trát vá, sơn phết hay trùng tu kiên cố đến đâu, nhưng nếu thiếu đi tiếng cười nói, sinh hoạt gia đình, khói hương bàn thờ tổ tiên và nếp ứng xử của con người bản địa, thì đô thị cổ ấy cũng chỉ còn là một bảo tàng chết.
Người dân gốc chính là chất keo kết dính quá khứ với hiện tại. Khi họ rời đi, phần "hồn" của phố cổ cũng theo đó phai nhạt dần, biến di sản thành một khu phố thương mại hào nhoáng nhưng trống rỗng về mặt văn hóa”.ThS. Nguyễn Thị Huệ (Viện Nghiên cứu Văn hóa)
Giấy bảo chứng cho "di sản sống" nằm ở chính con người và sinh kế cộng đồng
Trước nguy cơ "rỗng hóa" lõi di sản và sự mai một của các thực hành văn hóa truyền thống, các đại biểu tham dự hội thảo đồng thuận rằng: Mọi nỗ lực gia cố cột gỗ, dặm lại ngói vỡ hay sơn phết tường vàng đều sẽ trở nên vô nghĩa nếu không giải quyết được bài toán giữ chân cư dân gốc.
Bảo tồn Hội An không thể chỉ dựa vào các quy định hành chính khô khan hay các bản báo cáo quy hoạch trên giấy, mà phải được neo giữ vào chính con người - những chủ nhân thực sự của không gian văn hóa.

Từ lăng kính du lịch bền vững và quản trị có sự tham gia, ThS. Nguyễn Thị Huệ nhấn mạnh rằng cần phải định hình lại tầm nhìn bảo tồn: Con người là trung tâm của di sản.
Để hiện thực hóa điều đó, các giải pháp cấp bách cần được triển khai đồng bộ. Trong đó cần thiết lập quỹ tài chính và cơ chế hỗ trợ tu bổ thực chất.
Nhà nước và chính quyền địa phương cần thiết lập một tỷ lệ phân bổ minh bạch, ổn định từ nguồn thu bán vé tham quan phố cổ để lập quỹ chuyên biệt hỗ trợ trực tiếp kinh phí tu bổ (chống dột, gia cố khung kèo, phòng chống cháy nổ, chống ngập lụt) cho các hộ dân sở hữu nhà cổ trong khu vực lõi.
Mức hỗ trợ hiện tại (40-60%) vẫn vượt quá khả năng chi trả của nhiều hộ gia đình lao động nghèo. Cần có chính sách hỗ trợ tới 100% cho các hộ khó khăn có di tích hư hỏng nặng, tránh tình trạng người dân buộc phải bán nhà vì không kham nổi chi phí bảo dưỡng.

Ngoài ra, chính sách an sinh và ưu đãi đặc thù "giữ chân" cư dân cũng là việc cần phải làm ngay. Cần có các gói ưu đãi về thuế đất, thuế kinh doanh đối với các hộ gia đình giữ gìn nguyên vẹn nếp nhà cổ đa thế hệ.
Khuyến khích và tạo khung pháp lý thuận lợi để phát triển mô hình lưu trú homestay gia đình truyền thống đúng nghĩa thay vì để làn sóng thương mại hóa đại chúng thâu tóm hoàn toàn không gian.
Đa dạng hóa không gian và giảm tải cho vùng lõi là một giải pháp cũng được nhiều chuyên gia khuyến nghị.
Theo PGS.TS. Phạm Trung Lương và nhiều chuyên gia, việc mở rộng không gian du lịch sang các vệ tinh lân cận như làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh là chìa khóa để phân bổ dòng khách, giảm áp lực cơ học lên vùng lõi phố cổ, đồng thời tạo sinh kế rộng rãi hơn cho cộng đồng các vùng phụ cận.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng chuyển đổi số trong bảo tồn cũng là một hướng đi đột phá. Như ThS. Phạm Phú Ngọc, ThS. Trần Thị Lệ Xuân và ThS. Nguyễn Trần Thế Hiệp đã chỉ ra, việc xây dựng "hạ tầng tri thức di sản", số hóa 3D toàn bộ di tích, lưu giữ "dữ liệu sống" của cộng đồng (từ ký ức mùa lũ, tri thức bản địa đến trải nghiệm âm thanh di sản) không chỉ giúp phục vụ công tác quản lý rủi ro thiên tai mà còn tạo ra các lớp trải nghiệm có chiều sâu, kết nối thế hệ trẻ vào tiến trình bảo vệ quê hương.
Chuyển dịch từ "dòng khách" sang "dòng giá trị" trong không gian Đà Nẵng mới
Bước sang giai đoạn phát triển mới, đặc biệt sau mốc điều chỉnh địa giới hành chính sáp nhập không gian di sản vào thành phố Đà Nẵng lớn mạnh từ ngày 1/7/2025 và các định hướng chiến lược theo Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch, Hội An đang đứng trước vận hội và thách thức đan xen.
Hiến kế cho hướng đi tương lai của thành phố, ThS. Nguyễn Văn Lanh (Nguyên Phó chủ tịch UBND thành phố Hội An) đã đưa ra một luận điểm sắc sảo trong tham luận của mình: Đã đến lúc chấm dứt tư duy chạy theo số lượng "dòng khách" để chuyển dịch triệt để sang tối ưu hóa "dòng giá trị".

Thực tế số liệu cho thấy, trong khi du lịch toàn vùng Đà Nẵng tăng trưởng rất mạnh (lượng khách lưu trú tại Đà Nẵng 9 tháng đầu năm 2026 tăng tới 26,4%), thì lượng khách mua vé tham quan Hội An lại có xu hướng đi ngang (dao động ở mức 1,7 - 1,8 triệu lượt/năm) và ước tính có tới 35-40% du khách thụ hưởng không gian di sản mà không mua vé tham quan, không trực tiếp đóng góp cho công tác bảo tồn.
Do đó, định hướng chiến lược trong không gian Đà Nẵng mới đòi hỏi phải tái cấu trúc hành trình và chuỗi giá trị du lịch. Không để Hội An chỉ là điểm đến "ghé ngang" vài tiếng trong tour tuyến của khách lưu trú tại trung tâm Đà Nẵng, mà phải tổ chức lại hành trình để giữ chân du khách dài ngày hơn.
Kết nối hữu cơ không gian phố cổ với hệ sinh thái sông nước, biển đảo (Cù Lao Chàm), làng nghề thủ công và du lịch nông nghiệp sinh thái.

Đồng thời, hoàn thiện Quy chế bảo vệ di sản, ứng dụng công nghệ kiểm soát vé tham quan, tích hợp vé liên tuyến (Đà Nẵng - Hội An - Mỹ Sơn) và công khai minh bạch việc tái đầu tư nguồn thu cho hạ tầng di sản và an sinh của cư dân.
Ngoài ra, cần phát huy tối đa giá trị văn hóa bản địa làm chuẩn chất lượng điểm đến; khai thác triệt để danh hiệu Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO (lĩnh vực Thủ công và Nghệ thuật dân gian).
Đặc biệt, cần biến giá trị "nhân tình thuần hậu" - nét văn hóa ứng xử nghĩa tình, điềm đạm của người xứ Quảng - thành một chuẩn mực chất lượng dịch vụ độc bản, vượt trội mà các khu đô thị hiện đại khác không thể sao chép.

Các chuyên gia cũng hiến kế thành lập hội đồng tư vấn cộng đồng gồm chủ di tích, nghệ nhân, doanh nghiệp và thanh niên, hiện thực hóa tinh thần "nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng".
Đồng thời, áp dụng các bộ chỉ số đo lường tính bền vững (MST, GSTC) để giám sát định kỳ các tác động của du lịch đến môi trường và đời sống dân cư.
Hội An không thể và không nên trở thành một phiên bản thu nhỏ của bất kỳ đô thị hiện đại nào khác. Sức hút mãnh liệt của thương cảng cổ kính này từ bao đời nay nằm ở chính linh hồn sống động của nó. Đó là nơi những ngôi nhà cổ lưu giữ ký ức gia đình, nơi đèn lồng lung linh mỗi đêm rằm gắn kết tình làng nghĩa xóm, và nơi người dân tự nguyện làm những "vệ sĩ thầm lặng" bảo vệ di sản bằng cả trái tim mình.



