Muốn hết ngập, TP.HCM phải chuyển mình thành 'thành phố bọt biển'
GS.TS Nguyễn Văn Phước cho rằng TP.HCM cần chuyển từ xử lí từng điểm ngập sang quản trị theo lưu vực, kết hợp hạ tầng thoát nước với không gian trữ nước, kiểm soát triều, ngăn mặn và công nghệ dự báo để giảm rủi ro ngập đô thị.
Ngập nước không thể giải quyết bằng công trình đơn lẻ
Ngập nước tại TP.HCM không còn đơn thuần là vấn đề của những tuyến đường thấp hay hệ thống cống quá tải, mà liên quan đến quy hoạch đô thị, quản trị lưu vực sông, kiểm soát triều, xâm nhập mặn, sụt lún đất và biến đổi khí hậu.
Tại tham luận gửi đến Hội thảo khoa học “50 năm Thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dấu ấn lịch sử, khát vọng phát triển và đột phá thể chế”, GS.TS Nguyễn Văn Phước - Liên hiệp các Hội Khoa học - cho rằng, trong không gian phát triển mới sau hợp nhất, thành phố cần thay đổi cách tiếp cận, từ chống ngập đơn thuần sang quản trị tổng hợp rủi ro ngập và an ninh nguồn nước.

Thực tế, ngập đô thị hình thành từ nhiều yếu tố cộng hưởng. Mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn khiến hệ thống cống quá tải; triều cường làm giảm khả năng tiêu nước tự chảy; sụt lún khiến cao độ đô thị thấp dần tương đối so với mực nước sông, biển. Trong khi đó, quá trình bê tông hóa và thu hẹp ao hồ, kênh rạch, đất ngập nước làm giảm khả năng thấm và trữ nước tự nhiên.
Một điểm nghẽn khác là sự thiếu đồng bộ giữa các công trình. Có nơi đã xây dựng cống chính nhưng thiếu cống nhánh; có cống ngăn triều nhưng chưa đủ hồ điều tiết và trạm bơm; có kênh được cải tạo nhưng cửa xả hoặc hạ lưu vẫn bị thắt nghẽn. Việc nâng đường, san nền theo từng dự án còn có thể tạo ra chênh lệch cao độ, đẩy nước sang khu dân cư lân cận.
Từ thực tế này, GS.TS Nguyễn Văn Phước cho rằng điểm ngập chưa chắc là nơi phát sinh nguyên nhân. Nếu chỉ xử lí một tuyến đường mà không xem xét toàn bộ lưu vực, giải pháp có thể giảm ngập tại chỗ nhưng lại chuyển rủi ro sang khu vực khác.
Vì vậy, hiệu quả chống ngập phải được đánh giá trên toàn hệ thống, từ cửa thu, cống nhánh, cống chính, kênh trục đến hồ điều tiết, cửa xả và trạm bơm. Thành phố cũng cần khắc phục tình trạng quy hoạch chưa theo kịp mưa cực đoan, triều cao và sụt lún; quản lí phân tán theo ngành, địa giới; thiếu quỹ đất dành cho nước và dữ liệu phục vụ điều hành chưa được tích hợp đầy đủ.
Từ thoát nước nhanh sang giữ, trữ và tái sử dụng nước
Một trong những chuyển đổi quan trọng mà GS.TS Nguyễn Văn Phước đề xuất là thay mục tiêu chống ngập tuyệt đối bằng quản trị rủi ro. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, không thể bảo đảm mọi khu vực đều không ngập trong mọi tình huống. Thành phố cần xác định mức độ rủi ro có thể chấp nhận, kiểm soát độ sâu và thời gian ngập, giảm thiệt hại, đồng thời nâng cao khả năng phục hồi.

Theo cách tiếp cận này, bệnh viện, sân bay, cảng, trung tâm điều hành và các tuyến giao thông huyết mạch cần được bảo vệ ở mức cao. Ngược lại, công viên, quảng trường, sân thể thao và một số vùng trũng có thể được thiết kế để chứa nước tạm thời khi mưa lớn.
Thay vì chỉ thống kê số điểm ngập được xử lý, thành phố cần đánh giá thêm diện tích và số dân được bảo vệ, thời gian gián đoạn giao thông, thiệt hại kinh tế tránh được, chất lượng nước và chi phí vận hành công trình trong suốt vòng đời.
GS.TS Nguyễn Văn Phước cũng đề xuất chuyển từ quản lí theo địa giới hành chính sang quản lí theo lưu vực thủy văn. Mỗi lưu vực cần có bản đồ cao độ, nguy cơ ngập và sụt lún, mô hình thủy lực, dữ liệu về cống, kênh, hồ, trạm bơm cùng quy trình vận hành thống nhất.
Các dự án giao thông, khu đô thị, khu công nghiệp và san nền phải chứng minh không làm gia tăng rủi ro ngập cho khu vực xung quanh. Nguyên tắc được đề xuất là lưu lượng dòng chảy sau phát triển không lớn hơn trước; nếu làm tăng dòng chảy, chủ đầu tư phải bổ sung dung tích điều tiết tương ứng.
Cùng với đó, tư duy thoát nước càng nhanh càng tốt cần được thay bằng chuỗi giải pháp giữ, thấm, trữ, lọc, tái sử dụng rồi mới tiêu thoát. Nước mưa vừa là nguy cơ gây ngập, vừa là nguồn tài nguyên có thể phục vụ tưới cây, rửa đường, cảnh quan và chữa cháy, nhất là khi thành phố còn phải bảo đảm nguồn nước ngọt trong mùa khô.
Mô hình “thành phố bọt biển” được GS.TS Nguyễn Văn Phước đề cập theo hướng kết hợp hạ tầng xám với hạ tầng xanh và xanh dương. Hệ thống cống, đê, trạm bơm tiếp tục giữ vai trò bảo vệ đô thị trước các đợt mưa lớn, trong khi hồ điều tiết, mái xanh, vườn mưa, bề mặt thấm và hành lang sông rạch giúp giảm dòng chảy đỉnh, tăng khả năng trữ nước và cải thiện môi trường sống.
Giải pháp cần được điều chỉnh theo đặc điểm từng khu vực. Ở trung tâm mật độ cao, thành phố có thể phát triển hồ chứa ngầm, bể trữ dưới công viên, quảng trường và cải tạo cửa thu nước. Tại các khu đô thị mới, hồ điều tiết, hành lang sông rạch và tỷ lệ bề mặt thấm cần được xác định ngay từ khâu quy hoạch. Khu công nghiệp phải kiểm soát nước mưa có nguy cơ ô nhiễm; vùng nông nghiệp cần bảo vệ ao hồ, ruộng trũng và kênh tưới tiêu; khu vực cửa sông, ven biển cần duy trì rừng ngập mặn, bãi triều và không gian ngập có kiểm soát.
Kết hợp chống ngập, kiểm soát triều và bảo đảm an ninh nguồn nước
Theo GS.TS Nguyễn Văn Phước, chống ngập tại TP.HCM phải gắn với kiểm soát triều, xâm nhập mặn và giữ nguồn nước ngọt. Các công trình kiểm soát triều cần được vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh, gồm đê hoặc bờ bao, cống, kênh trục, hồ điều tiết, trạm bơm, nguồn điện dự phòng và mạng quan trắc.

Nếu đóng cống ngăn triều trong lúc mưa lớn nhưng phía trong không đủ dung tích chứa và năng lực bơm, nguy cơ ngập nội vùng có thể tăng. Vì vậy, việc đóng mở cống phải căn cứ đồng thời vào dự báo mưa, mực nước trong và ngoài, độ mặn, dung tích hồ và nhu cầu cấp nước. Thành phố cũng cần phối hợp điều tiết hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An và các công trình trên lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn để duy trì dòng chảy, đẩy mặn và bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất.
Thay vì tìm cách ngọt hóa toàn bộ vùng cửa sông, GS.TS Nguyễn Văn Phước đề xuất phân định các vùng nước ngọt ổn định, vùng chuyển tiếp chịu ảnh hưởng mặn theo mùa, vùng nước lợ phục vụ thủy sản và vùng mặn gắn với rừng ngập mặn. Cách tiếp cận này giúp giảm phụ thuộc vào công trình cứng, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế địa phương.
Để các giải pháp phát huy hiệu quả lâu dài, thành phố cần kiểm soát sụt lún và tích hợp dữ liệu vận hành. Mạng quan trắc phải kết hợp mốc cao độ, định vị vệ tinh, ảnh radar InSAR, dữ liệu khai thác nước dưới đất và tải trọng xây dựng. Trên cơ sở đó, bản đồ sụt lún được cập nhật định kì, phục vụ quy hoạch cao độ và thiết kế hạ tầng.
Một “bản sao số” của hệ thống nước đô thị cũng cần được xây dựng, tích hợp dữ liệu mưa, triều, độ mặn, camera ngập, mạng lưới cống – kênh – hồ, trạng thái trạm bơm, sụt lún và giao thông. Hệ thống này có thể hỗ trợ dự báo khu vực nguy cơ cao, điều hành cống – bơm – hồ trước mưa lớn và đánh giá hiệu quả sau mỗi đợt ngập.
GS.TS Nguyễn Văn Phước đồng thời đề xuất giao Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM làm đầu mối tập hợp chuyên gia, tổ chức tư vấn, phản biện và giám định xã hội độc lập đối với các chương trình, dự án chống ngập. Việc phản biện cần bắt đầu từ giai đoạn xây dựng chiến lược, quy hoạch và chuẩn bị đầu tư, sau đó tiếp tục bằng giám sát, đánh giá kết quả thực tế.
Thành phố cần có đầu mối đủ thẩm quyền điều phối quy hoạch thoát nước, cao độ, kiểm soát triều, nguồn nước, sụt lún và dữ liệu cảnh báo; đồng thời thành lập hội đồng khoa học liên ngành về quản trị ngập và an ninh nước. Trước mắt, cần rà soát quy hoạch sau hợp nhất, xử lý các điểm ngập nghiêm trọng, bảo vệ quỹ đất dành cho hồ điều tiết và hành lang sông rạch, hoàn thiện các công trình đang triển khai, đồng thời thí điểm mô hình thành phố bọt biển tại những lưu vực phù hợp.
Theo định hướng này, mục tiêu chống ngập không chỉ là đưa nước ra khỏi đô thị mà còn là tổ chức không gian để giữ nước khi có lợi, kiểm soát nước khi bất lợi và chủ động ứng phó với các tình huống cực đoan. Chính quyền giữ vai trò điều phối, doanh nghiệp tham gia đầu tư và đổi mới công nghệ, cộng đồng cùng giám sát và thích ứng; giới khoa học cung cấp cơ sở dữ liệu, phản biện độc lập và đánh giá hiệu quả các quyết sách dài hạn.

