Công nghệ quân sự

Một binh sĩ chỉ huy cả bầy 200 drone: Tham vọng mới của AI quân sự Mỹ

Bảo Đăng • 04/11/2026 10:40

Palladyne AI cho rằng phần mềm của mình có thể giúp một người điều phối tới 200 drone. Ba năm trước, công ty Mỹ này suýt bị giải thể. CEO Ben Wolff nói công nghệ đã sẵn sàng, nhưng quy mô 200 chiếc chưa được thử công khai.

Cuối năm 2023, hội đồng quản trị Sarcos, tiền thân của Palladyne AI, mời ông Ben Wolff quay lại cho ý kiến. Ông là cựu CEO và cổ đông lớn nhất, đã rời ghế điều hành khoảng hai năm. "Lời khuyên của tôi có lẽ là bán tài sản và giải thể công ty", ông kể với The Defense Post.

Theo ông Wolff, giá trị thị trường của Sarcos khi đó đã rơi từ 1,6 tỉ USD xuống khoảng 12 triệu USD. Ông dành 60 ngày làm việc với giám đốc công nghệ Denis Garagić, cựu nhà khoa học trưởng của BAE Systems. Kết luận của ông là phần cứng đã thất bại, còn phần AI tiến xa hơn ông nghĩ. Hai người đề xuất cắt ba phần tư nhân sự và gọi thêm vốn. Hội đồng mời ông trở lại điều hành. Ông nhận lương 1 USD mỗi năm, còn lại lấy bằng cổ phần.

drone bày đàn
Một người lính trang bị thiết bị quân sự và điều khiển một đàn máy bay không người lái (drone). Ảnh: Palladyne AI

Palladyne AI ra đời từ đống đổ nát của Sarcos

Sarcos được giáo sư Stephen Jacobsen của Đại học Utah (Mỹ) thành lập năm 1983. Đầu thập niên 2000, công ty nhận tiền của DARPA để làm khung xương trợ lực cho binh sĩ. Báo chí gọi nó là bộ giáp Iron Man. Raytheon mua Sarcos vào tháng 11/2007. Cuối năm 2014, nhóm do ông Fraser Smith và ông Wolff dẫn đầu mua lại tài sản Sarcos từ Raytheon.

Năm 2021, Sarcos lên sàn Nasdaq qua thương vụ sáp nhập với công ty séc trắng Rotor Acquisition. Ông Wolff rút khỏi ghế CEO để giữ lời hứa với gia đình. Tháng 4/2022, ban lãnh đạo mới mua hãng robot RE2 ở Pittsburgh. Không nêu tên thương vụ, ông Wolff nói một vụ mua lại lớn đã làm công ty phân tán.

Sau hai lần thay CEO, đến tháng 11/2023, hội đồng quản trị dừng hẳn mảng phần cứng. Ông Wolff nhận lại ghế CEO từ ngày 23/2/2024. Tháng 3 năm đó, công ty đổi tên thành Palladyne AI. Phần AI được giữ lại sinh ra từ chính bộ khung xương. Robot học thao tác khi người mặc nó làm việc, thay vì phải lập trình từng bước. Khung xương chưa từng ra thị trường, nhưng "bộ não" của nó nay chạy trên drone và robot nhà máy.

Phần mềm bầy drone hoạt động thế nào

Từ công nghệ AI phát triển cho bộ khung xương trợ lực, Palladyne xây dựng SwarmOS, phần mềm cho phép nhiều drone phối hợp thực hiện một nhiệm vụ dưới sự giám sát của một người. Nền tảng này sử dụng AI vật lí (physical AI), tức trí tuệ nhân tạo chạy trực tiếp trên máy móc để nhận biết môi trường và phản ứng với những thay đổi xung quanh.

Theo Palladyne, người lính chỉ cần giao nhiệm vụ ở mức tổng quát. Các drone sau đó tự phối hợp, chia sẻ thông tin và điều chỉnh cách thực hiện khi tình hình chiến trường thay đổi, miễn là không vượt khỏi giới hạn được giao.

CEO Ben Wolff phân biệt ba khái niệm thường bị dùng lẫn trong lĩnh vực quân sự. Không người lái chỉ có nghĩa là phương tiện không chở người điều khiển. Tự động hóa là thực hiện quy trình định sẵn, như bay theo điểm mốc hoặc tránh va chạm. Còn tự chủ là khả năng lựa chọn cách hành động mới khi tình huống thay đổi. Theo cách phân loại của ông, ngay cả tên lửa đánh chặn Patriot cũng thuộc nhóm tự động hóa.

Video giới thiệu về tính năng của SwarmOS. Video: Palladyne AI

Ông lấy ví dụ một drone được giao bám theo xe. Nếu xe dừng và một hành khách bỏ chạy, drone tự động hóa vẫn tiếp tục theo xe. Drone tự chủ có thể nhận biết mục tiêu ưu tiên đã di chuyển và chuyển sang bám người.

Với SwarmOS, người chỉ huy có thể mô tả mục tiêu bằng lời thay vì nhập sẵn tọa độ. Drone bay lượn tìm kiếm, khi phát hiện đối tượng phù hợp sẽ báo về kèm mức độ tin cậy. Quyết định tấn công vẫn do người chỉ huy đưa ra.

Wolff dẫn lời một người huấn luyện phi công drone cho Ukraine rằng mỗi UAV tại đây thường cần ba binh sĩ. Một người điều khiển, hai người còn lại hỗ trợ bảo vệ vì người lái phải tập trung vào màn hình, dễ trở thành mục tiêu. SwarmOS được phát triển nhằm giảm gánh nặng này, giúp một người có thể giám sát nhiều drone cùng lúc.

Thách thức tiếp theo là duy trì hoạt động khi bị gây nhiễu. Theo Wolff, môi trường liên lạc ở Ukraine còn khắc nghiệt hơn những gì công ty từng dự tính. Nhờ AI chạy trực tiếp trên từng drone, phương tiện vẫn có thể tiếp tục nhiệm vụ khi mất kết nối với người vận hành. Khi cần phối hợp, các UAV chỉ trao đổi những gói dữ liệu nhỏ, ở mức kilobit, theo từng đợt ngắt quãng. Tùy thiết bị vô tuyến, chúng còn có thể nhảy tần để hạn chế ảnh hưởng của gây nhiễu.

Từ bãi tập đến lời hứa "làm được ngay ngày mai"

Năm nay, phần mềm bầy drone SwarmOS có mặt ở hai đợt diễn tập lớn của Lục quân Mỹ. Ở Ivy Mass của Sư đoàn Bộ binh 4, SwarmOS được nối vào mạng chỉ huy thế hệ mới NGC2. Theo ông Wolff, một người lính đã điều phối drone của bốn nhà sản xuất. Trong số đó có Gremlin-X, drone ném bom cỡ nhỏ của Palladyne. Công ty nói người này chỉ mất chưa đến 30 phút để học cách dùng hệ thống.

gremlinx_1.jpg
Gremlin-X là một mẫu máy bay không người lái (UAV) nhiều cánh quạt thế hệ mới, hoạt động như một "mini-bomber" (máy bay ném bom mini) tái sử dụng nhưng có thể tiêu hao. Ảnh: Palladyne

Chưa đầy ba tháng sau, phần mềm tham gia Project Convergence Capstone 6, cuộc thử nghiệm đối kháng quy mô sư đoàn. Lần này, SwarmOS chạy cùng nền tảng Lattice của Anduril. Drone trinh sát tìm và nhận diện mục tiêu, rồi chia sẻ dữ liệu qua mạng chỉ huy. Một người lính ra quyết định và giao cho Gremlin-X tấn công.

Từ đó, ông đưa ra con số gây chú ý. "Nếu Lục quân Mỹ muốn bay 200 drone khác loại trong một nhiệm vụ bằng phần mềm của chúng tôi, chúng tôi làm được ngay ngày mai", ông nói. Điều kiện là cần thời gian cài phần mềm và kiểm tra cảm biến, bộ đàm. Hai năm trước, theo ông, Lầu Năm Góc còn nói tới mốc 2032 hoặc 2035.

Con số 200 vẫn là tuyên bố của doanh nghiệp. Thông cáo về hai cuộc diễn tập không nêu số drone tham gia. Cũng chưa có đánh giá độc lập công khai nào trong chiến đấu thật, nhất là trước đối thủ mạnh về tác chiến điện tử.

Theo ông Wolff, phần mềm cho phép con người can thiệp ở bất kì bước nào. Quan điểm của công ty là quyết định tiêu diệt phải do người đưa ra. Nhưng ông cũng nói rõ đây là lựa chọn chính sách, không phải giới hạn kĩ thuật. Về lí thuyết, khách hàng có thể để bầy drone tự làm trọn nhiệm vụ.

Quay lại phần cứng, chạy đua với dòng tiền

Công ty từng suýt chết vì phần cứng nay lại làm phần cứng. Lí do là nhiều drone trên thị trường không đủ mạnh để chạy hết phần mềm của Palladyne. Tháng 11/2025, công ty mua hãng điện tử hàng không GuideTech và hai xưởng gia công với giá trị công bố khoảng 31 triệu USD. Con số này gồm 20 triệu USD cổ phiếu, 5 triệu USD tiền mặt và khoảng 6 triệu USD nợ tiếp nhận.

Tháng 6/2026, Palladyne kí biên bản ghi nhớ với Israel Aerospace Industries. Theo đó, công ty có quyền độc quyền sản xuất và tiếp thị các mẫu drone cảm tử Harpy, Harop và Mini Harpy cho chính phủ Mỹ. Việc cấp phép còn chờ thỏa thuận triển khai chính thức giữa hai bên. Chính phủ Israel vẫn có thể bán trực tiếp cho Washington. Palladyne không trả phí bản quyền trước mà trả theo doanh số. Thỏa thuận có thể kéo dài tới 10 năm nếu đạt các mốc đặt ra. Tháng 10, Palladyne cùng Federal Ammunition và Mossberg công bố dự án SwarmShot. Mục tiêu là gắn mô-đun súng shotgun lên drone để đánh chặn UAV đối phương.

HAROP_PIC_02-1536x1022 (1)
Drone cảm tử Harop. Ảnh: Palladyne AI

Doanh thu năm 2025 chỉ đạt 5,2 triệu USD, còn thấp hơn năm 2024. Công ty dự báo năm 2026 thu 24 đến 27 triệu USD nhờ các thương vụ mua lại. Đến 30/6, Palladyne còn 43,7 triệu USD tiền mặt và chứng khoán. Năm nay, công ty dự kiến tiêu bình quân 8 đến 9 triệu USD cho hoạt động mỗi quý.

Ông Wolff nói mức này sẽ giảm dần khi doanh thu và biên lợi nhuận tăng trong nửa cuối năm. Ông gọi công nghệ của mình là "tài sản quốc gia". Công ty đã có hai hợp đồng của Lục quân Mỹ để nghiên cứu và kiểm chứng SwarmOS cùng Gremlin-X. Để chứng minh lời ông Wolff, Palladyne phải đưa SwarmOS từ bãi tập lên quy mô hàng trăm chiếc. Kết quả thử nghiệm cũng cần trở thành những đơn hàng quân sự lớn hơn.

Bảo Đăng