Nhịp đập công nghệ

Rung nhĩ: Hai đột phá điều trị đang thay đổi cách phòng ngừa đột quỵ

Hồ Quang 03/08/2026 13:38

Triệt đốt rung nhĩ và bít tiểu nhĩ trái đang mở ra hướng điều trị cá thể hóa, giúp giảm nguy cơ đột quỵ và hạn chế phụ thuộc thuốc kháng đông ở những bệnh nhân phù hợp.

Rung nhĩ là nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng nguy cơ đột quỵ do huyết khối và ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới. Trong nhiều năm, thuốc kháng đông được xem là nền tảng trong điều trị nhằm ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm này. Tuy nhiên, những tiến bộ trong triệt đốt rung nhĩ và bít tiểu nhĩ trái đang mở ra hướng tiếp cận mới, giúp cá thể hóa điều trị, giảm nguy cơ đột quỵ và tạo cơ hội giảm phụ thuộc thuốc kháng đông cho một số bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chí điều trị.

Điều trị rung nhĩ đang bước sang một giai đoạn mới

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng, đồng thời là yếu tố làm tăng đáng kể nguy cơ đột quỵ thiếu máu não. Điều đáng lo ngại là nhiều người bệnh không có triệu chứng rõ ràng cho đến khi xảy ra biến chứng, khiến rung nhĩ được ví như "kẻ giết người thầm lặng" trong bệnh lí tim mạch.

rung-nhi-2-dot-pha-dieu-tri-dang-thay-doi-cach-phong-ngua-dot-quy-hinh-anh.png
Triệt đốt rung nhĩ và bít tiểu nhĩ trái đang mở ra hướng điều trị cá thể hóa, giúp giảm nguy cơ đột quỵ và hạn chế phụ thuộc thuốc kháng đông ở những bệnh nhân phù hợp. Ảnh: minh họa

Theo PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch học TP.HCM, khi tâm nhĩ không còn co bóp đồng bộ mà rung lên hỗn loạn, dòng máu sẽ bị ứ trệ, tạo điều kiện hình thành huyết khối, chủ yếu tại tiểu nhĩ trái. Nếu cục máu đông bong ra và di chuyển lên não, người bệnh có thể đối mặt với đột quỵ thiếu máu não cấp – biến chứng có tỉ lệ tử vong và tàn phế rất cao.

Trong nhiều thập kỉ, thuốc kháng đông đường uống được xem là giải pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ. Tuy nhiên, việc phải sử dụng thuốc kéo dài cũng đi kèm nguy cơ xuất huyết, từ chảy máu nhẹ đến những biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết tiêu hóa hoặc xuất huyết não. Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp vừa kiểm soát nguy cơ đột quỵ, vừa giảm gánh nặng điều trị luôn là mục tiêu của các chuyên gia tim mạch.

Theo PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí, điều trị rung nhĩ hiện không còn chỉ tập trung vào kiểm soát rối loạn nhịp mà hướng đến mục tiêu toàn diện hơn, bao gồm giảm nguy cơ đột quỵ, hạn chế biến chứng xuất huyết và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Đó cũng là lí do y học đang chuyển mạnh sang mô hình điều trị cá thể hóa thay vì áp dụng một phác đồ chung cho mọi bệnh nhân.

Triệt đốt rung nhĩ mở ra cơ hội giảm phụ thuộc thuốc kháng đông

Một trong những bước tiến nổi bật là kĩ thuật triệt đốt rung nhĩ qua đường ống thông. Bằng năng lượng sóng cao tần hoặc năng lượng lạnh, bác sĩ có thể cô lập các ổ phát nhịp bất thường, giúp khôi phục nhịp xoang và cải thiện chức năng co bóp của tâm nhĩ. Khi tình trạng rung nhĩ được kiểm soát hiệu quả, nguy cơ hình thành huyết khối cũng giảm đáng kể.

Theo một nghiên cứu mới, ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ từ thấp đến trung bình, được triệt đốt thành công và duy trì nhịp xoang ổn định trong ít nhất 12 tháng, việc ngừng thuốc kháng đông không làm tăng nguy cơ đột quỵ hoặc thuyên tắc mạch, đồng thời giúp giảm các biến cố xuất huyết liên quan đến điều trị.

Tuy nhiên, PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí nhấn mạnh rằng kết quả này không đồng nghĩa với việc mọi bệnh nhân rung nhĩ đều có thể tự ý ngừng thuốc. Theo ông, quyết định giảm hoặc dừng thuốc kháng đông chỉ được đưa ra sau khi bác sĩ đánh giá đầy đủ nguy cơ đột quỵ, nguy cơ tái phát rung nhĩ, kết quả theo dõi điện tâm đồ kéo dài cũng như chức năng tim sau điều trị.

Các nhà khoa học cũng khuyến cáo, việc ngừng thuốc kháng đông ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao khi chưa đủ điều kiện vẫn có thể làm gia tăng các biến cố tim mạch. Điều đó cho thấy triệt đốt rung nhĩ là một bước tiến quan trọng nhưng không thay thế hoàn toàn vai trò của việc đánh giá chuyên môn và theo dõi lâu dài.

Bít tiểu nhĩ trái tạo thêm lựa chọn cho người bệnh

Nếu triệt đốt rung nhĩ phù hợp với những bệnh nhân có khả năng duy trì nhịp xoang ổn định thì bít tiểu nhĩ trái lại mở ra cơ hội cho nhóm bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết cao hoặc không thể sử dụng thuốc kháng đông trong thời gian dài.

Theo PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí, hơn 90% huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim hình thành tại tiểu nhĩ trái. Vì vậy, việc sử dụng dụng cụ chuyên dụng để bít kín cấu trúc này giúp hạn chế đáng kể nguy cơ huyết khối di chuyển lên não gây đột quỵ.

Các nghiên cứu quốc tế đều ghi nhận bít tiểu nhĩ trái có hiệu quả phòng ngừa đột quỵ tương đương điều trị kháng đông ở những nhóm bệnh nhân phù hợp, đồng thời giúp giảm nguy cơ xuất huyết trong quá trình theo dõi lâu dài. Đây được xem là một trong những cơ sở khoa học quan trọng thúc đẩy xu hướng điều trị cá thể hóa đối với bệnh rung nhĩ hiện nay.

Theo PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí, sự phát triển của các kĩ thuật can thiệp hiện đại không đồng nghĩa với việc thuốc kháng đông sẽ bị thay thế hoàn toàn. Mỗi phương pháp đều có chỉ định riêng và cần được lựa chọn trên cơ sở đánh giá toàn diện từng bệnh nhân nhằm cân bằng giữa nguy cơ đột quỵ và nguy cơ chảy máu.

Theo các chuyên gia, mục tiêu của tim mạch hiện đại không chỉ là kéo giảm tỉ lệ đột quỵ mà còn giúp người bệnh hạn chế biến chứng xuất huyết, giảm gánh nặng sử dụng thuốc lâu dài và cải thiện chất lượng cuộc sống.

"Để đạt được điều đó, người bệnh cần được phát hiện sớm, theo dõi định kì và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Chỉ khi lựa chọn đúng phương pháp cho đúng đối tượng, hai đột phá là triệt đốt rung nhĩ và bít tiểu nhĩ trái mới có thể phát huy tối đa hiệu quả trong việc thay đổi cách phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ", PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí chia sẻ.

Nổi bật
      Mới nhất
      Rung nhĩ: Hai đột phá điều trị đang thay đổi cách phòng ngừa đột quỵ
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO