Sáng cuối Thu nghe chuyện 'người làm sử' nhân 125 năm ngày sinh GS.VS Trần Huy Liệu
Qua câu chuyện với nhà văn Trần Chiến - con trai út của Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu, hình ảnh người cha nổi tiếng được khắc họa không phải như một pho tượng đồng lạnh lẽo được đắp vẽ bởi những mỹ từ hoa mỹ, mà là một con người trần thế đầy bản lĩnh, đa đoan, đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho từng trang sử dân tộc.

Nắng sớm cuối thu rót xuống những mái ngói rêu phong của phố cổ Hà Nội từng vệt vàng trong trẻo, hanh hao. Không khí ban mai se sắt lạnh, thoang thoảng mùi lá rụng và nhịp sống bắt đầu cựa mình trên từng con ngõ nhỏ. Sáng ấy, ngày 4/11, đúng một ngày trước dịp kỷ niệm tròn 125 năm ngày sinh của Giáo sư, nhà cách mạng, Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học Trần Huy Liệu.
Trong gian phòng nhỏ giản dị, nhà văn Trần Chiến, con út Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu tiếp tôi bên chiếc bàn tre thô mộc. Khác hẳn với hình dung về sự tươm tất cầu kỳ của người xuất thân từ một gia đình danh giá, ông chỉ bận chiếc áo phông cũ, dáng vẻ của ông lão ở tuổi 75, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn khá nhanh nhẹn, phong sương của năm tháng. Trên mặt bàn tre sớm ấy không có những kệ sách đồ sộ phô trương hay những lẵng hoa trang trọng; chỉ có một ấm trà mạn vừa ủ đang bốc làn khói ấm, một bao thuốc lá mở sẵn và chiếc gạt tàn bằng sứ đã lấm tấm tàn xám.

Cuộc đối thoại giữa chúng tôi diễn ra trong một nhịp điệu rất khác lạ. Nó không giống bất kỳ cuộc phỏng vấn nhân vật bài bản nào với những câu hỏi tròn trịa và câu trả lời chau chuốt. Cứ sau vài câu chuyện kể, người đàn ông ấy lại ngập ngừng, gương mặt trầm tư. Ánh mắt ông Chiến thường xuyên lạc đi, nhìn xa xăm ra khoảng trời thu trước cửa nhà – nơi ánh nắng rọi tỏ từng hạt bụi li ti khiêu vũ giữa không trung, như thể tâm trí ông đang chìm vào những giằng xé nội tâm dai dẳng suốt mấy mươi năm qua đang chậm rãi trồi lên.
Cái bóng danh phận và sự giằng xé của người con út
- "Ngày mai là tròn 125 năm ngày sinh cụ Liệu, gia đình mình có tổ chức gì không chú?" - tôi cất tiếng phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch.
Ông Chiến chậm rãi, khẽ lắc đầu, khóe môi thoáng một nụ cười nhàn nhạt: - "Không, từ lâu lắm rồi nhà chú không làm sinh nhật, chỉ làm giỗ thôi. Các con các cháu giờ mỗi người mỗi nơi, ai nấy đều già cả, cổ lỗ hết rồi. Huống hồ chú là con bà hai, từ bé có ở cùng bố đâu. Cả tuổi thơ chú sống với mẹ bên Lập Thạch, Vĩnh Phúc, còn cụ thì ở tít bên Đại Từ, Tân Trào với bà cả. Ký ức về bố nó không giống như một đứa con bình thường nhớ về cha đâu cháu ạ".
Nghe ông trải lòng, tôi buột miệng thắc mắc: "Nhưng lớn lên dưới bóng của một nhân vật khổng lồ như Giáo sư Trần Huy Liệu – một 'tượng đài' lừng lẫy của ngành sử học nước nhà, ắt hẳn chú phải chịu nhiều áp lực lẫn sự tự hào lớn lao lắm chứ ạ?".
Vừa nghe dứt câu hỏi, gương mặt nhà văn Trần Chiến bỗng đổi sắc. Đôi lông mày ông khẽ chau lại, khóe miệng mấp máy, ánh mắt lộ rõ vẻ không hài lòng:
- "Chú nói thật, cả đời chú ghét nhất là cái cảm giác ấy. Đang ngồi chơi rất vui vẻ, tự nhiên có người quay sang chỉ trỏ: 'Đây là con ông Trần Huy Liệu!'. Tự dưng mình thấy mình bị tách bật ra khỏi mọi người, mất hết sự tự nhiên. Cảm giác như bó mình vào khung, như bị thiên hạ ngó nghiêng săm soi. Khó chịu cực kỳ!".

Giọng ông trầm hẳn xuống, bộc lộ một tâm trạng giằng xé dữ dội đã âm thầm giam hãm ông suốt cả cuộc đời: - "Không phải chú khiêm tốn hay không biết tự hào về bố mình. Tự hào chứ, bố mình tài năng, có công lao to lớn với đất nước thì mình phải kính trọng chứ. Nhưng chú ngồi đây, trước hết chú phải là chính chú, chứ không thể vừa mở miệng ra là đã bị đóng đinh vào cái khung 'con ông nọ bà kia'. Người đời cứ hay gán ghép một cách kỳ cục: thấy con nhà sử học thì mặc định cái gì về sử cũng phải biết tuốt; thấy con lãnh đạo cấp cao thì nghĩ ngay đến chuyện phải phấn đấu lên chức này quyền nọ. Chú thì dứt khoát không. Chú chỉ thích viết văn, làm báo và làm chuyên môn thuần túy. Chứng kiến bố cả đời chìm nổi, vất vả chốn quan trường chỉ vì ông không có phẩm chất thích nghi, chú biết mình lại càng không bao giờ thuộc về nơi ấy".
Sự giằng xé ấy trong tâm can ông Chiến còn bắt nguồn từ những ẩn ức gia đình phức tạp. Năm 1945 – 1946, khi ông Trần Huy Liệu đến với mẹ ông, đó là một cuộc hôn nhân gặp muôn vàn trắc trở. Mẹ ông vốn xuất thân từ gia đình quan lại thời thuộc địa, từng có một đời chồng là con trai cụ Phạm Quỳnh và đã có hai người con riêng. Khi đến với nhau, tổ chức thời ấy đã phê bình ông Liệu nặng nề vì tội đa thê và lấy con dâu của một quan chức triều đình cũ. Còn mẹ ông thì phải gánh chịu những điều tiếng cay nghiệt của miệng đời. Ranh giới giữa hai người vợ và hai dòng con ngày càng cách biệt.
- "Hồi tiếp quản và giải phóng Thủ đô, nhà mẹ chú ở phố Hàng Buồm, còn bố sống với bà cả. Lâu lâu ông mới đi chiếc xe con ghé qua nhà, cả phố Hàng Buồm xôn xao: 'Ông Liệu về kìa!'. Nhưng ông chỉ tạt vào một lát rồi lại vội vã đi ngay. Thành thử cứ đôi ba tuần chú mới gặp mặt bố được một lần. Những đêm ngủ cùng giường với bố trong cả cuộc đời chú chắc đếm không hết mười đầu ngón tay.
Năm 1969 bố chú mất, lúc ấy chú mới mười bảy mười tám tuổi, đang khoác áo lính ở đơn vị bộ đội vội vã chạy về. Thú thật, cảm giác mất mát của một người con trong chú không nhiều, bởi từ bé có bao giờ được sống gần bố đâu. Nhưng cái nỗi đau đớn nhất, day dứt nhất cấu xé tâm can chú lúc ấy là thương mẹ, không được đường hoàng bước vào dự lễ tang chồng. Nó để lại trong lòng vết thương âm thầm, khó lành".
Bức màn tượng đài và con người thật sau những trang tư liệu
Nắng buổi sớm chiếu xuyên qua làn khói thuốc mỏng manh, soi rõ những đường vân mộc mạc trên chiếc bàn tre. Ông Chiến gõ nhẹ đầu ngón tay khẳng khiu, đôi mắt lại nhìn ngập ngừng xa xăm ra ô cửa. Cảm giác như mỗi câu chuyện kể ra là một lần ông phải vật lộn với những lớp ký ức đan xen giữa yêu thương, xa cách và sự cảm thông muộn màng. Ông đưa tôi quay ngược thời gian về những năm 1990, khi người con trai út quyết định bước chân vào kho lưu trữ của Viện Sử học, lần giở từng trang di cảo, thư từ và nhật ký cơ mật của người cha đã khuất.

- "Chính những trang nhật ký ấy đã kéo chú lại gần bố. Trước đó, trong mắt xã hội, Trần Huy Liệu là một biểu tượng cách mạng bằng đồng kiên trung, bất khuất, một người anh cả của ngành sử học. Nhưng khi đọc từng dòng cụ tự bạch với chính mình, chú mới bàng hoàng nhận ra bố mình là một con người bằng xương bằng thịt, đa đoan, phức tạp và vô cùng đa sắc".
Ông Chiến dừng lại giây lát, nhấp một ngụm trà nguội, rành rẽ từng lời: - "Ông Liệu là người hoàn toàn tự học mà thành tài. Từ chàng ký giả trẻ viết văn làm thơ cổ điển ở quê nhà rồi cộng tác với báo Nam Phong, đến năm 1923 vào Sài Gòn, môi trường đô thị kiểu phương Tây đã làm thay đổi hoàn toàn văn phong và tư duy của cụ. Rồi cụ bị đày ra Côn Đảo, tiếp xúc với các bạn tù cộng sản, ra tù năm 1934 lại lao vào Mặt trận Dân chủ 1936 trở thành một chiến sĩ báo chí cách mạng. Nhưng căn cốt của ông lại là người sống hoàn toàn bằng tình cảm, lãng mạn và rất mực đa cảm. Một người yêu của ông trong cuốn hồi ký in bên Mỹ, từng nhận xét rất đúng rằng ông hợp với làm văn nghệ hơn là làm chính trị".
Chính tính khí đa cảm của một trí thức dấn thân vì tinh thần dân tộc ấy đã đẩy ông Trần Huy Liệu vào những trắc trở chốn quan trường. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ Pháp - Việt, ông Liệu là một trong những tiếng nói kịch liệt phản đối Điều 1: "Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp". Cụ Hồ phải nói: 'Tôi không phải người bán nước'. Sau này, trong công tác nghiên cứu, ông viết bài nhìn nhận lại vai trò tích cực của giai cấp địa chủ, phong kiến và quan lại trong các phong trào kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, để rồi bị đồng chí Trường Chinh phê bình là 'mơ hồ giai cấp'. Rồi những năm 1960, khi phong trào chống xét lại diễn ra gay gắt, nhiều bạn bè tù Sơn La thân thiết của cụ rơi vào vòng xoáy chính trị. Cụ Liệu rơi vào trạng thái cô độc, ngột ngạt và buồn bã đến tột cùng.
- "Có người từng hỏi chú: Thời Pháp thuộc cụ Liệu kiên cường không sợ tù đày, tra tấn dã man của thực dân, sao về sau lại có những lúc phải cẩn trọng, giữ mồm giữ miệng, né tránh bạn bè như thế? Chú bảo người ta: Ai mà chẳng sợ! Càng về già, càng có chức tước, có quyền lực tem phiếu tiêu chuẩn cao thì người ta lại càng sợ mất. Cái sợ ấy là tâm lý bình thường của một con người bình thường bằng xương bằng thịt. Hơn nữa, ông phải giữ gìn sự an toàn cho vợ con, để con cái có một cái lý lịch tốt mà sống, mà tiến thủ. Nhận ra điều đó, chú không hề thất vọng, mà trái lại, chú thấy bố mình gần gũi, đáng quý và đáng thương hơn rất nhiều so với một pho tượng vô cảm".

Khi viết cuốn sách chân dung về cha, nhà văn Trần Chiến đã chọn một lối đi riêng đầy trắc trở. Ông tiếp cận nhân vật dưới góc nhìn của một nhà văn đối diện với một đối tượng lịch sử. Phần đầu viết về thời thơ ấu ở quê thì có thể hư cấu đôi chút, nhưng từ mốc 1945 trở đi, ông bám chặt vào từng dòng tư liệu lưu trữ của Viện Sử học, trích dẫn minh bạch từng xuất xứ chứ tuyệt nhiên không thêm thắt, bịa đặt. Trước khi cuốn sách ra đời, ông Chiến có viết bài về cha mình đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần, người anh thứ làm họa sĩ gật đầu tâm đắc, bởi ông nhận ra rằng qua ngòi bút của Trần Chiến, người cha của họ không còn là cái bóng trừu tượng treo trên tường, mà đã thực sự bước xuống trần thế với đầy đủ những vấp váp, bi kịch và phẩm giá của một con người.
Gia tài của 'Người làm sử' và bài học muôn đời
Nắng buổi sáng đã lên cao, rọi qua khung cửa sổ những luồng sáng sắc nét, xua đi cái se lạnh ban đầu. Ấm trà mạn đã nhạt màu nước, chiếc gạt tàn đã đầy thêm một lớp mới.
Nhắc đến Giáo sư Trần Huy Liệu, hậu thế đời sau luôn nhớ đến bản di chúc viết năm 1969. Trong những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh, người Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học đã thanh thản dặn lại: "Tôi chết đi không có tiền bạc gì cả, chỉ có bản thảo ghi chép và sách công phu rất quý cho việc nghiên cứu lịch sử..."
- "Đọc lại những dòng chữ ấy của cụ năm xưa, chú nghĩ gì về gia tài mà người cha để lại cho mình?" - tôi khẽ hỏi.
Ông Chiến lại nói: - "Gia tài của ông để lại cho đời là kho sử liệu khổng lồ và bài học về sự nghiêm cẩn với tư liệu. Bố chú và thế hệ làm sử của cụ xuất thân từ lòng yêu nước của người trí thức dân tộc. Làm sử khó bề khách quan, thoát hẳn khỏi ý thức hệ, quy định của hoàn cảnh chính trị, nhưng tư liệu thực chứng sẽ trường tồn mãi".

Giọng nói ông Chiến trở nên dứt khoát và lắng sâu: - "Còn với riêng chú, điều lớn nhất chú học được từ cụ chính là một cái nhìn đa chiều, sòng phẳng về cuộc đời. Lịch sử không phải là một cuốn tiểu thuyết luân lý với hai màu đen trắng rạch ròi. Lịch sử giống như bàn tay con người, có mu có lòng, có vấp váp, có sai lầm, có bi kịch thì mới làm nên tầm vóc đích thực.
Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi khép lại khi tiếng còi xe và nhịp sống phố xá bên ngoài đã hối hả. Ngày mai, ngày 5 tháng 11, những diễn văn kỷ niệm 125 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Huy Liệu sẽ được trang trọng xướng lên ở các giảng đường, viện nghiên cứu lớn. Nhưng hôm nay ở góc phòng nhỏ này, bên chiếc bàn tre đơn sơ, chân dung vị Viện trưởng mở nền cho nền sử học cách mạng Việt Nam hiện lên chân thực hơn bao giờ hết: không phải một pho tượng đồng lạnh lẽo được đắp vẽ bởi những mỹ từ hoa mỹ, mà là một con người trần thế đầy bản lĩnh, đa đoan, đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho từng trang sử dân tộc.


