Siêu đô thị TP.HCM trước bài toán chống ngập - Bài 2: Nghịch lý giải pháp ‘chắp vá’ và đứt gãy trong mô hình quản trị
Khi mỗi khu vực trong siêu đô thị có một kiểu ngập khác nhau, cách ứng phó cũng trở thành một bài toán không đơn giản. Khảo sát thực địa cho thấy từ từng căn nhà, con hẻm đến các công trình công cộng, người dân và chính quyền đều đang tìm cách thích ứng với nước.
Nhưng khi những giải pháp ấy được thực hiện riêng lẻ, thiếu kết nối theo không gian thoát nước, xử lí điểm ngập này có thể làm thay đổi hướng dòng chảy và tạo áp lực lên khu vực khác.
Từ nền nhà đến con đường: mỗi nơi một cách chống ngập (!)
Năm 2022, TS. Bùi Thị Minh Hà khảo sát 250 hộ dân tại 4 điểm ngập điển hình gồm Huỳnh Tấn Phát, Dương Văn Cam, Ung Văn Khiêm và Hiệp Bình Chánh. Kết quả cho thấy ngập tác động trực tiếp đến không gian sống, từ nhà ở, đường trước cửa đến lối ra vào. Khi mưa lớn hoặc triều cường, nhiều hộ phải tự dùng máy bơm, tát nước, bao cát hoặc tấm chắn để ứng phó; sau đó tiếp tục dọn bùn đất, rác và nước bẩn.

Cụ thể, 47,2% số hộ từng bị nước tràn vào nhà. Trong đó, 14% bị ngập thường xuyên, 20% thỉnh thoảng và 13,2% hiếm khi ngập. Ra khỏi không gian nhà ở, mức độ ảnh hưởng còn rõ hơn. Chỉ 4,8% hộ cho biết đường trước nhà không bị ngập; 31,6% bị ngập thường xuyên, 40,8% thỉnh thoảng và 22,8% hiếm khi.
Với các tuyến đường lớn gần nhà, tỷ lệ hộ không bị ngập là 0%. Có 33,2% bị ngập thường xuyên, 41,6% thỉnh thoảng và 25,2% hiếm khi.
Những con số này cho thấy ngập trải rộng từ không gian ở đến các tuyến giao thông xung quanh. Trong điều kiện đó, các hộ dân không chỉ chờ giải pháp từ bên ngoài mà phải tự điều chỉnh không gian sống để giảm thiệt hại.
Trong các biện pháp chủ động, nâng nền nhà chiếm tỷ lệ cao nhất, với 32% ý kiến.

Đây là cách ứng phó trực tiếp với nước tràn vào nhà. Tuy nhiên, tại những khu dân cư thấp trũng, nơi các căn nhà nằm sát nhau, việc một hộ nâng nền có thể làm thay đổi cao độ tương đối giữa các nhà và hướng thoát nước chung.
Một nền nhà được nâng lên có thể giúp nước khó tràn vào nhà đó hơn, nhưng dòng nước vẫn cần một nơi khác để đi.
Cách ứng phó này cũng xuất hiện ở cấp độ hẻm, đường nội bộ. Khi một con hẻm thường xuyên ngập, người dân có thể cùng nhau đóng góp kinh phí để nâng mặt hẻm.

Nếu việc nâng hẻm không được đặt trong tổng thể cao độ và hệ thống thoát nước của khu vực, nước không biến mất mà có thể chuyển sang những vùng thấp hơn. Từ đó hình thành một vòng lặp: nhà nâng nền, hẻm nâng cao, đường tiếp tục được nâng, trong khi những khu vực chưa được cải tạo tiếp tục chịu áp lực nước.
Như vậy, từ một nhu cầu rất cụ thể là bảo vệ căn nhà hoặc duy trì việc đi lại, các biện pháp tự thích ứng của người dân đã bắt đầu tác động đến không gian chung. Đây cũng là điểm giao nhau giữa giải pháp của từng hộ và bài toán hạ tầng mà chính quyền phải xử lí.
Chính quyền lúng túng xử lí bằng … công trình
Ở cấp độ chính quyền, các giải pháp công trình tiếp tục là nhóm biện pháp được người dân ghi nhận nhiều trong ứng phó với ngập.
Khảo sát năm 2022 cho thấy nạo vét cống rãnh, hệ thống thoát nước, hố ga được 56% ý kiến đề cập. Nâng đường được 44,4%. Xây dựng đê, kè, cống ngăn triều chiếm 22,8%; dùng máy bơm để giải tỏa ngập chiếm 15,6%; sử dụng túi cát, rào cản tạm thời chiếm 17,2%.

Các giải pháp này đều tác động trực tiếp đến khả năng tiêu thoát hoặc ngăn nước. Nạo vét hệ thống thoát nước nhằm duy trì khả năng tiêu thoát, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào tình trạng bùn đất, rác thải và khả năng tiếp nhận nước của toàn hệ thống.
Tương tự, nâng đường có thể cải thiện khả năng lưu thông tại khu vực thường xuyên ngập, nhưng đồng thời làm thay đổi tương quan cao độ giữa mặt đường và nhà dân hai bên.
Điều đáng chú ý là bên cạnh nhóm giải pháp công trình, các biện pháp liên quan đến quản lí rủi ro và sự tham gia của cộng đồng được ghi nhận với tỷ lệ thấp hơn nhiều.
Tăng cường sự tham gia của các chủ thể xã hội trong giám sát và quy hoạch chỉ đạt 3,2%. Tổ chức chương trình nâng cao nhận thức, kiến thức về môi trường, ngập lụt và biến đổi khí hậu đạt 2,8%. Tuyên truyền thông tin, dự báo và cảnh báo ngập chiếm 6%. Các biện pháp sinh thái như làm hồ chứa nước, trồng cây đạt 4%. Đặc biệt, tổ chức tập huấn, tuyên truyền các biện pháp chống ngập chỉ chiếm 1,2%.

Các tỷ lệ này cho thấy hai nhóm hoạt động đang diễn ra với mức độ khác nhau: người dân chủ động xử lí những tác động ngay tại nơi ở, trong khi chính quyền tập trung nhiều hơn vào hạ tầng và các công trình kiểm soát nước. Khoảng cách giữa hai cách ứng phó vì thế trở thành vấn đề cần được xem xét ở cấp độ quản trị.
Chống ngập chắp vá, thiếu đồng bộ, có gây lãng phí, phân tán nguồn lực hay không ?
TS. Bùi Thị Minh Hà nhận định: “Kết quả khảo sát về thích ứng với ngập nước của cả cấp Chính quyền và người dân cho thấy các hoạt động tách riêng, không đồng bộ giữa dân và chính quyền. Người dân thì tự nâng nền nhà, hoặc ngăn nước vào nhà, trong khi chính quyền thì tiến hành các hoạt động như nâng cao trình những con đường bị ngập úng. Điều này cho thấy sự không đồng bộ trong các hoạt động của cộng đồng và chính quyền trong ứng phó với ngập, gây lãng phí và phân tán nguồn lực tài chính và nguồn lực tự nhiên”.

Nhận định này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở từng biện pháp cụ thể, mà ở sự kết nối giữa các chủ thể cùng tham gia ứng phó. Một hộ dân quan tâm đến nền nhà của mình, một khu dân cư quan tâm đến con hẻm, trong khi chính quyền phải xử lí đường sá, cống rãnh và các công trình quy mô lớn hơn. Mỗi cấp độ có một nhu cầu và phạm vi can thiệp khác nhau.
Từ đó, quản lí nguy cơ ngập lụt cần được gắn với quy trình lập kế hoạch thường xuyên của toàn vùng siêu đô thị TP.HCM. Quản lí ngập cũng cần được tích hợp với quy hoạch đô thị, phát triển kinh tế và các chính sách bảo vệ môi trường, thay vì triển khai thành những nhóm công việc tách biệt.
Một yêu cầu khác nằm ở phương thức quản lí. Hiện việc ứng phó ngập chủ yếu theo hướng từ trên xuống: các quyết định nâng cấp đường, cải tạo hệ thống thoát nước được triển khai từ cấp thành phố xuống cơ sở. Ở chiều ngược lại, thông tin về tình trạng ngập và cách người dân tự thích ứng lại hình thành từ từng khu dân cư.
Việc kết nối hai chiều này đòi hỏi cơ chế để cộng đồng tham gia vào giám sát, cung cấp thông tin và quá trình lập kế hoạch. Khi đó, các giải pháp tại từng khu vực có thể được xem xét trong mối liên hệ với những khu vực lân cận, thay vì chỉ dựa trên nhu cầu trước mắt.
Cùng với cơ chế phối hợp là yêu cầu về nguồn nhân lực. Quản lí ngập trong một vùng siêu đô thị không chỉ cần kiến thức về môi trường nước mà còn đòi hỏi năng lực về quy hoạch, kinh tế, xã hội, quản lí vùng và công nghệ thông tin. Trong xu hướng phát triển đô thị thông minh, đội ngũ này còn phải có khả năng ứng dụng công nghệ vào theo dõi, dự báo và quản lí rủi ro ngập.

Theo TS. Bùi Thị Minh Hà, áp lực quản trị sẽ còn lớn hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mực nước biển của Việt Nam có thể tăng 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 1 m vào năm 2100. TP.HCM hiện có khoảng 17,84% diện tích thuộc khu vực có nguy cơ ngập.
Nếu quy mô vùng siêu đô thị trong tương lai lên tới 20-30 triệu dân, gồm khu trung tâm và các đô thị vệ tinh, quản lí ngập sẽ không còn giới hạn trong phạm vi một khu dân cư, một tuyến đường hay một đơn vị hành chính. Nó sẽ gắn với quy hoạch không gian, hạ tầng, phân bố dân cư và phát triển kinh tế của toàn vùng.

Khi đó, dữ liệu về mưa, triều, cao độ, thoát nước và mức độ tổn thương của cộng đồng cần được kết nối để phục vụ quá trình ra quyết định. Ranh giới hành chính có thể phân chia trách nhiệm quản lí, nhưng không phân chia được dòng nước.
Đó cũng là điểm cần thay đổi trong tư duy quản trị ngập: từ xử lí từng điểm sang quản lí rủi ro trên toàn bộ không gian có liên hệ về nước. Với một siêu đô thị đang mở rộng, đây không chỉ là câu chuyện của những công trình chống ngập mà còn là bài toán tổ chức không gian, phối hợp nguồn lực và thích ứng dài hạn.

