Thời sự

Siêu đô thị TP.HCM trước bài toán chống ngập - Bài 3: Chuyển từ chống ngập sang quản lí rủi ro ngập

Hoàng Bắc 21/09/2026 15:00

Trong bối cảnh đối mặt với những thách thức ngày càng lớn về rủi ro ngập lụt, TP.HCM đang chủ động nghiên cứu và tìm kiếm những bước chuyển dịch chiến lược nhằm quản lí hiệu quả rủi ro ngập lụt, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

159 điểm ngập và bài toán quản lí trên toàn hệ thống

TP.HCM đang đối diện một bài toán ngập ngày càng phức tạp khi mưa cực đoan, triều cường, sụt lún, đô thị hóa và những tác động từ thượng nguồn cùng lúc gây sức ép lên hệ thống thoát nước.

Hiện toàn thành phố có 159 điểm ngập. Trong đó, 138 điểm phát sinh do mưa cực đoan, 10 điểm do triều cường trên hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai và 11 điểm chịu tác động đồng thời của mưa và triều. Tình trạng ngập tại TP.HCM xuất phát từ 4 nhóm nguyên nhân cốt lõi gồm nền địa hình thấp trũng tự nhiên, hệ thống thoát nước cũ và xuống cấp, sự gia tăng của những trận mưa lớn do biến đổi khí hậu và mực nước triều dâng cao.

img_08010.png
Mưa xuống, đường thành sông, xe ô tô chạy giữa dòng nước cuộn chảy. Ảnh: Hoàng Bắc

Rủi ro còn trở nên nghiêm trọng hơn bởi những tác động cộng hưởng như lấn chiếm kênh rạch, xả lũ từ các hồ chứa thượng nguồn và tình trạng sụt lún nền đất.

Từ thực tế này, nghiên cứu “Quản lí rủi ro ngập lụt cho TP.HCM” của chuyên gia Hoàng Quang Huy, Công ty Haskoning - đơn vị tư vấn quốc tế với bề dày phát triển hơn 145 năm và hơn 40 năm kinh nghiệm tại Việt Nam, đã thực hiện nhiều nghiên cứu hỗ trợ cho TP.HCM trong công tác quản lí rủi ro ngập lụt - đề xuất chuyển từ tư duy chống ngập truyền thống sang quản lí rủi ro ngập tích hợp, kết hợp công trình, giải pháp dựa vào tự nhiên, quy hoạch không gian và công nghệ.

img_4327.jpg.webp
Mưa tung trắng xoá gây cản trở giao thông, làm khó cho người qua đường. Ảnh: Hoàng Bắc

Theo ông Hoàng Quang Huy, TP.HCM cần chuyển dịch từ phương thức chống ngập truyền thống sang Quản lí Rủi ro Ngập lụt Tích hợp (IFRM). Thay vì chủ yếu tập trung vào triết lí “thoát nước nhanh”, đồng thời cố gắng loại bỏ hoàn toàn các điểm ngập bằng hệ thống hạ tầng xám, cách tiếp cận mới hướng đến khả năng “sống chung an toàn” với rủi ro ngập.

Ba nguyên tắc được đặt ra gồm thiết lập hệ thống an toàn đa tầng, ưu tiên các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) để dành không gian cho nước và nâng cao năng lực thích nghi của đô thị, từng bước chuyển khỏi mục tiêu chống ngập tuyệt đối.

Theo hướng này, mức độ bảo vệ không nhất thiết giống nhau ở mọi nơi mà có thể được phân bổ phù hợp với giá trị kinh tế, đặc điểm xã hội và mức độ rủi ro của từng loại không gian.

“Thẩm - Trữ - Thoát” và 5 vùng rủi ro

Từ cách tiếp cận quản lí rủi ro theo từng không gian, ông Hoàng Quang Huy đề xuất triển khai các giải pháp từ cấp lưu vực đến từng khu vực đô thị.

Ở cấp lưu vực, việc phối hợp vận hành các hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An và Phước Hòa được đề xuất nhằm chủ động cắt đỉnh lũ, hạn chế xung đột giữa lũ và triều cường.

Đối với các hành lang sông, giải pháp được đưa ra là phục hồi hình thái tự nhiên bằng kè mềm sinh thái, đồng thời phân vùng hành lang thoát lũ và kiểm soát, ngăn chặn các hoạt động xây dựng trái phép.

img_09020.jpg
Người dọn dẹp nhà cửa sau mưa lớn. Ảnh: Hoàng Bắc

Trong khu vực đô thị, một chiến lược 3 bước “Thẩm - Trữ - Thoát” được đề xuất. Theo đó, thành phố có thể mở rộng các bề mặt có khả năng thấm nước như vỉa hè thấm, vườn mưa; xây dựng các hồ điều tiết và nâng cấp hệ thống thoát nước bền vững (SUDS), qua đó giữ lại và điều tiết nước trước khi đưa vào hệ thống thoát.

Cùng với việc tổ chức giải pháp theo cấp độ không gian, quy hoạch cũng được đề xuất phân thành 5 loại vùng rủi ro ngập để áp dụng các giải pháp kiểm soát khác nhau.

Vùng I là khu vực trung tâm đô thị cũ, cần được bảo vệ ở mức cao bằng hệ thống cống - bơm, cống kiểm soát triều thông minh tích hợp SCADA, ưu tiên các tuyến tiêu chính bằng trọng lực và bảo vệ nghiêm ngặt hành lang kênh rạch, ngăn chặn tình trạng lấn chiếm.

Vùng II gồm các khu công nghiệp và khu kinh tế ven sông, ven biển. Các giải pháp được đề xuất gồm đê bao cục bộ, thiết kế nền công trình ở cao trình an toàn, phát triển mạng lưới hạ tầng xanh có khả năng thấm nước trong nội khu nhằm giảm lưu lượng đỉnh và tách biệt hệ thống thoát nước mưa với nước thải.

Vùng III là các khu vực bán ngập và hành lang sông Sài Gòn - Đồng Nai. Tại đây, giải pháp gồm phát triển hành lang trữ lũ, công viên ngập nước và mở rộng lòng dẫn tại những nút thắt thủy lực để tăng khả năng chuyển tải dòng chảy tự nhiên.

img2010.png
Nước chảy lênh láng khắp đường, ngõ hẻm khiến mọi sinh hoạt của người dân rơi vào thế "bất động". Ảnh: Hoàng Bắc

Vùng IV là khu vực cửa sông và bờ biển. Các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS) như rừng ngập mặn, kè mềm và bãi bồi nhân tạo được đề xuất kết hợp với các công trình tiêu tán năng lượng sóng, đồng thời bảo tồn hệ sinh thái.

Vùng V gồm các khu vực phát triển mới và tái thiết, được định hướng theo mô hình “đô thị bọt biển” (Sponge City) nhằm hạn chế sự gia tăng rủi ro ngập do quá trình đô thị hóa.

Ông Huy nhấn mạnh: “Cách phân vùng này cho phép các giải pháp chống ngập được lựa chọn theo điều kiện cụ thể thay vì áp dụng một mô hình chung cho toàn thành phố”.

Từ công trình đến thể chế và công nghệ

Trong lựa chọn giải pháp công trình, ông Hoàng Quang Huy đặt vấn đề so sánh giữa san nền truyền thống và mô hình Polder (ô đê bao).

San nền thường có chi phí đầu tư ban đầu cao nhưng vận hành đơn giản và ít tốn kém cho công tác bảo trì. Tuy nhiên, giải pháp này sử dụng nhiều tài nguyên cát, có thể gây sụt lún cục bộ, làm giảm dung tích trữ nước và dẫn tới dịch chuyển rủi ro ngập sang những khu vực khác. Khi điều kiện khí hậu và sụt lún thay đổi, cao trình nền đã được xác lập cũng khó điều chỉnh.

img2015.png
Người dân 'khổ sở' đi làm việc trong mưa lớn, nước xoáy siết khi trời về tối. Ảnh: Hoàng Bắc

Trong khi đó, Polder có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn và khả năng thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu, sụt lún đất thông qua việc nâng cao đỉnh đê hoặc tăng công suất bơm. Mô hình này cũng có những hạn chế như chi phí vận hành cao, quy trình phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nước nội khu. Dù vậy, theo tham luận, Polder là giải pháp có tính đa mục tiêu, thân thiện với môi trường và có thể giúp giảm áp lực ngập cho các khu vực lân cận.

Bên cạnh các giải pháp công trình, tham luận nhấn mạnh nhóm giải pháp phi công trình, trước hết là đổi mới thể chế. Một hướng được đề xuất là chuyển từ quản lí theo ranh giới hành chính sang quản lí theo lưu vực, đồng thời hướng tới thành lập một Cơ quan nước tập trung để quản lí toàn diện hạ tầng nước.

img_09015.jpg
Tình trạng ngập lụt trở thành nỗi lo thường trực của người dân TP.HCM ở vùng trũng. Ảnh: Hoàng Bắc

Công nghệ số cũng được xem là một thành phần của hệ thống quản lí rủi ro mới. Thành phố có thể sử dụng nền tảng cảnh báo rủi ro ngập sớm, hệ thống SCADA và xây dựng “Bản sao số” (Digital Twin) để mô phỏng tình trạng ngập lụt theo thời gian thực.

Về nguồn lực, tham luận đề xuất hình thành hệ sinh thái tài chính xanh, lồng ghép mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) để khai thác giá trị đất đai gia tăng, đồng thời huy động nguồn vốn xã hội hóa theo hình thức PPP nhằm tạo nguồn lực tài chính cho các dự án quản lí rủi ro ngập.

Những đề xuất này được đặt trong bối cảnh các nghiên cứu trước đây về quản lí rủi ro ngập tại TP.HCM, gồm nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch 1547 để xây dựng trong giai đoạn 1, nghiên cứu chiến lược quản lí rủi ro ngập cho khu vực Thủ Đức (cũ), Quy hoạch TP.HCM thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cùng một số nghiên cứu và dự án đầu tư khác.

img_09022.jpg
Các cửa hàng mở cửa trở lại sau trận ngập nặng. Ảnh: Hoàng Bắc

Từ những nghiên cứu và phân tích trên, bài toán ngập của TP.HCM được đặt trong một phạm vi rộng hơn việc xây dựng thêm công trình thoát nước. Khi các điểm ngập đã phân tán trên không gian đô thị rộng lớn và chịu tác động đồng thời của mưa cực đoan, triều cường, sông, biển, sụt lún và đô thị hóa, quản lí rủi ro đòi hỏi sự kết hợp giữa quy hoạch, hạ tầng, hệ sinh thái, công nghệ và thể chế.

Theo hướng tiếp cận được chuyên gia Hoàng Quang Huy đề xuất, thay vì tìm một giải pháp duy nhất cho toàn thành phố, cần tổ chức các lớp bảo vệ khác nhau theo từng khu vực, từ cấp lưu vực đến từng không gian đô thị, đồng thời dành lại không gian cho nước và nâng cao khả năng thích nghi của đô thị trước những rủi ro ngày càng phức tạp.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu nhìn xa hơn trong quy hoạch đô thị, bởi các rủi ro về ngập lụt, biến đổi khí hậu và nước biển dâng không chỉ tác động đến hệ thống hạ tầng hiện tại mà còn ảnh hưởng đến cách TP.HCM tổ chức không gian phát triển trong nhiều thập niên tới.

img_4325.jpg
Xe chết máy do nước ngập sâu, chủ xe phải dời bỏ tài sản tìm cách thoát ra ngoài khu vực ngập. Ảnh: Hoàng Bắc

TSKH – KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, một đô thị quy mô lớn không thể chỉ dựa vào kế hoạch ngắn hạn 5 năm hay dài hạn 30 năm, mà cần có kịch bản phát triển bền vững trong 50 - 100 năm, nhằm thích ứng với biến động dân số, kinh tế, công nghệ, và đặc biệt là biến đổi khí hậu cùng nguy cơ nước biển dâng.

“Phát triển đô thị phải đi đôi với kịch bản ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu, trong đó mỗi khu vực cần có sự linh động trong phương thức phát triển phù hợp, gắn với cách quản lí khác biệt về quản lí đô thị”, ông Sơn nói.

Theo hướng đó, các vùng đất thấp nên dành nhiều diện tích cho không gian xanh và mặt nước, vừa tạo cảnh quan, vừa đóng vai trò điều tiết môi trường. Ngược lại, các khu vực đất cao như Bình Dương, Củ Chi, Hóc Môn có thể trở thành trọng tâm của đô thị mật độ cao, kết hợp khu công nghiệp với nhà ở giá phải chăng, giúp giảm áp lực cho nội đô và đồng thời ứng phó với nguy cơ ngập lụt.

Đối với đô thị ven biển và lấn biển, theo TSKH – KTS Ngô Viết Nam Sơn, việc phát triển vẫn cần thiết để tận dụng lợi thế kinh tế biển và du lịch, nhưng phải được triển khai với ý thức bền vững, với mật độ dân số vừa phải và có kịch bản ứng phó cụ thể trước nguy cơ nước biển dâng.

Song song đó, việc tận dụng hạ tầng kết nối vùng sẽ tạo động lực phát triển đa hướng, giúp TP.HCM mở rộng không gian đô thị mà vẫn duy trì sự cân bằng sinh thái.

Nổi bật
      Mới nhất
      Siêu đô thị TP.HCM trước bài toán chống ngập - Bài 3: Chuyển từ chống ngập sang quản lí rủi ro ngập
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO