Tái dựng di tích đã mất là điều phải làm, vì sao?
Ngày 29/9, Hà Nội khởi công dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi điện Kính Thiên. Dự án sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2026–2030. Trước khi khởi công, các nhà khoa học đã có 15 năm nghiên cứu, 4 đợt khai quật khảo cổ và đánh giá tính xác thực của 50 thành phần kiến trúc.
Dù vậy, những băn khoăn vẫn còn. Công trình gốc đã biến mất từ năm 1886. Cái được dựng lên năm 2030 liệu có còn là di tích?
Thế giới đã có câu trả lời cho câu hỏi này từ nhiều thập kỉ trước. Hai trường hợp tiêu biểu là phố cổ Warsaw ở Ba Lan và Gyeongbokgung (Cảnh Phúc cung) ở Hàn Quốc.
Khi sự hủy diệt là một chủ đích
Mùa thu năm 1944, Khởi nghĩa Warsaw thất bại. Quân Đức Quốc xã sau đó đã phá hủy từng khu phố. Theo Bảo tàng Khởi nghĩa Warsaw, tính chung trong chiến tranh thế giới, 782 trong số 957 di tích ở thành phố đã bị san phẳng. Lâu đài Hoàng gia, biểu tượng của nhà nước Ba Lan, đã bị phá hủy từ tháng 9/1944. Mục tiêu của Đức khi đó là xóa sổ Warsaw khỏi bản đồ với tư cách thủ đô của một dân tộc.

Ở Seoul, sự xóa bỏ diễn ra chậm hơn nhưng có tính toán không kém. Trong thời kì Nhật chiếm đóng (1910–1945), khoảng 356 công trình trong Gyeongbokgung bị dỡ bỏ. Khi Hàn Quốc giành độc lập, cung chỉ còn khoảng 40 công trình.

Năm 1916, chính quyền thuộc địa khởi công tòa nhà Phủ Tổng đốc ngay trước chính điện Geunjeongjeon. Tòa nhà hoàn thành năm 1926, chắn ngang trục chính của cung điện. Cổng chính Gwanghwamun (Quang Hóa Môn) cũng bị dời sang chỗ khác năm 1927. Thông điệp của những công trình đó rất rõ ràng: Quyền lực thực dân được đặt lên trên vương quyền bản địa.
Điện Kính Thiên ở Hà Nội cũng chịu số phận tương tự. Năm 1886, người Pháp phá bỏ công trình trên nền điện để xây trụ sở chỉ huy pháo binh. Tòa nhà này vẫn đứng trên nền cũ đến ngày nay.

Trong cả ba trường hợp, việc để nguyên hiện trạng không phải là một lựa chọn trung lập. Để nguyên hiện trạng đồng nghĩa với chấp nhận lời cuối cùng của kẻ đã phá hủy nó.
Người Ba Lan đã không chấp nhận điều này. Ngày 3/1/1945, khi Warsaw vẫn còn là đống gạch vụn, chính quyền mới quyết định giữ thủ đô và xây dựng lại thành phố. 6 tuần sau, Văn phòng Tái thiết Thủ đô (BOS) chính thức ra đời. Năm 1948, Quỹ Xã hội Tái thiết Thủ đô được thành lập, thu 0,5% tiền lương của mọi lao động trên cả nước. Khẩu hiệu thời đó là "Cả dân tộc xây dựng thủ đô của mình".
Đối với Hàn Quốc, việc quyết tâm phục dựng mất nhiều thời gian hơn. Năm 1990, Seoul khởi động kế hoạch phục dựng Gyeongbokgung về trạng thái năm 1888, thời kì cung có quy mô lớn nhất. Năm 1995, chính quyền Tổng thống Kim Young-sam cho phá tòa Phủ Tổng đốc. Đến năm 2010, cổng Gwanghwamun được đưa về vị trí gốc, trở lại thẳng trục với chính điện.
"Bản sao" hay di sản?
Phản biện lớn nhất đối với mọi dự án phục dựng là tính xác thực. Một công trình mới, xây bằng vật liệu mới thì khó có thể gọi là di tích. Warsaw là nơi câu hỏi này được đặt ra gay gắt nhất. Nhưng năm 1980, UNESCO đã đưa trung tâm lịch sử Warsaw vào danh sách Di sản thế giới.
Lý do UNESCO đưa ra rất đáng chú ý. Warsaw được công nhận không phải vì những viên gạch cổ. UNESCO gọi đây là "ví dụ đặc biệt về sự tái thiết toàn diện một thành phố đã bị cố ý phá hủy hoàn toàn". Nói cách khác, chính công cuộc tái thiết đã trở thành di sản. Năm 2011, kho hồ sơ của BOS, gồm bản vẽ, ảnh chụp và phương án phục dựng tiếp tục được đưa vào danh mục Kí ức Thế giới.
Trong thời gian bị Đức chiếm đóng, kiến trúc sư Jan Zachwatowicz, về sau là đồng giám đốc BOS, cùng các cộng sự đã giấu kín các bản vẽ đo đạc di tích, trong đó có quảng trường Chợ phố cổ. Các kiến trúc sư còn dùng đến 22 bức tranh phố xá Warsaw mà họa sĩ Bernardo Bellotto vẽ cho vua Stanisław II August vào thế kỷ 18.

Những bức tranh này cũng mang theo một bài học. Bellotto dùng kĩ thuật buồng tối quang học để vẽ cho chính xác, nhưng đôi khi vẫn thêm thắt chi tiết cho đẹp. Theo Notes from Poland, những con thằn lằn và khỉ đột trang trí trên mái cung điện Branicki hiện nay có nguồn gốc từ nét bút của họa sĩ, chứ không phải từ kiến trúc thật. Dù vậy, chúng vẫn được dựng lại đúng như trong tranh.
Chi tiết này cho thấy một thực tế: không có phục dựng nào hoàn hảo. Điều quan trọng không phải là giống bản gốc 100%, mà là mọi lựa chọn đều phải có căn cứ, được ghi chép và công khai.
Trong khi đó, ở Gyeongbokgung, nhiều hạng mục được tái dựng dựa trên "ước đoán và giả định" do thiếu tư liệu. Hàn Quốc chấp nhận điều đó. Với Seoul, giá trị của Gyeongbokgung nằm ở việc khôi phục một không gian biểu tượng quốc gia.

Từ năm 1994, Văn kiện Nara về tính xác thực đã mở rộng cách hiểu về khái niệm này. Theo văn kiện, tính xác thực không chỉ nằm ở vật liệu gốc mà còn ở hình thức, kĩ thuật, chức năng và bối cảnh văn hóa. Văn kiện này ra đời ở Nhật Bản, nơi các đền làm bằng gỗ vẫn được dựng lại định kì hàng thế kỉ nay.
Lợi ích to lớn khi "hồi sinh" di sản của Hà Nội
Hai ví dụ tiêu biểu ở Ba Lan và Hàn Quốc cho thấy được việc phục dựng di tích mang lại gì trong thực tế.
Ở Warsaw, Lâu đài Hoàng gia đón hơn 2,14 triệu lượt khách năm 2024. Đây là bảo tàng nghệ thuật đông khách thứ hai Ba Lan. Công trình được dựng lại trong giai đoạn 1971–1984, chủ yếu bằng tiền quyên góp của người dân trong và ngoài nước.
Năm 2025, Gyeongbokgung đón 6,89 triệu lượt khách tham quan, trong đó 2,78 triệu là khách quốc tế, theo Korea Times. Lượng khách nước ngoài tăng hơn 37% so với năm trước. Cung không chỉ là điểm du lịch. Quảng trường Gwanghwamun trước cổng cung ngày nay là một trong những không gian lễ hội và sinh hoạt công cộng quan trọng nhất của Seoul.
Điện Kính Thiên đang ở một thời điểm hội tụ hiếm có. Theo GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, sau đợt khai quật thứ tư năm 2026, chứng cứ khoa học đã tương đối vững chắc. Tháng 7/2026, Ủy ban Di sản thế giới ghi nhận tầm nhìn chỉnh trang trục trung tâm Hoàng thành. Việt Nam cũng đã có đủ nguồn lực tài chính và đội ngũ chuyên gia để làm theo chuẩn quốc tế.


Lý do tiếp theo là nền điện nằm trong khu di sản do Nhà nước quản lí. Không có cộng đồng nào phải rời đi. Vì vậy, điện Kính Thiên là nơi hội tụ đủ các điều kiện để việc phục dựng mang lại kết quả nhiều nhất mà phải đánh đổi ít nhất.
Kính Thiên là chính điện, là trái tim của Hoàng thành Thăng Long. Nếu thiếu chính điện, cả khu di sản thế giới ở giữa thủ đô sẽ tạo cảm giác "trống trải". Suốt từ năm 1886 tới nay, người ta đến Hoàng thành Thăng Long chỉ thấy một nền đá, đôi rồng và một tòa nhà do người Pháp dựng lên. Câu chuyện về trung tâm quyền lực của Đại Việt vì thế chỉ tồn tại trong sách vở và các hố khảo cổ.
Nếu được làm đúng, điện Kính Thiên sẽ không phải là "bản nhái" của thế kỷ XV. Đó sẽ là câu trả lời của thế kỷ XXI cho khoảng trống 140 năm qua, để các thế hệ tiếp theo ghi nhớ về một giai đoạn quan trọng của lịch sử Hà Nội cũng như cả dân tộc.
