Thảm họa xả lũ cột nước: Vạch trần 'lỗ hổng chết người' trong quy trình vận hành thủy điện
Theo chuyên gia Hoàng Sừ, cái sai ở tất cả các đập thủy điện hiện nay chính là tuân thủ theo quy trình vận hành liên hồ chứa.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới đây đã có công văn số 9670, lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 quy trình vận hành liên hồ chứa (chủ yếu là thủy điện) trên các lưu vực sông lớn ở miền Trung, bao gồm: Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, và Ba.
Động thái này diễn ra sau chuỗi thiên tai cực đoan, đặc biệt là các trận lũ lịch sử, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tối ưu hóa khả năng cắt, giảm lũ của các công trình thủy điện.
Lỗ hổng trong tư duy vận hành hiện tại
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Một Thế Giới về dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 quy trình vận hành liên hồ chứa (chủ yếu là thủy điện) trên các lưu vực sông lớn ở miền Trung của Bộ Nông nghiệp và môi trường, kiến trúc sư (KTS) Hoàng Sừ, nguyên Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Quảng Nam và nguyên Viên trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn tỉnh Quảng Nam, đã nhận xét về quy trình vận hàng liên hồ chứa và đưa ra những đề xuất quan trọng cần được bổ sung.
Cụ thể, ông đã chỉ ra những điểm yếu cốt lõi trong quy trình vận hành liên hồ chứa hiện hành và cho rằng mục tiêu tích nước cho sản xuất điện đang được đặt lên trên hết, làm giảm nghiêm trọng khả năng phòng lũ.
"Theo tôi cái sai ở tất cả các đập thủy điện hiện nay chính là tuân thủ theo cái gọi là quy trình vận hành liên hồ chứa, trong quy trình này những người lập và phê duyệt dường như đã đặt mục tiêu tích nước cho sản xuất điện lên trên hết", vị chuyên gia này nhìn nhận.
Đầu tiên, dung tích phòng lũ quá nhỏ bé, ông lấy ví dụ tại hồ A Vương (Quảng Nam) với lưu vực rộng 3.224 km2. Với một đợt mưa cực đoan 1.000mm, lượng nước đổ về lưu vực này có thể lên tới hơn 3 tỷ m3. Tuy nhiên, hồ A Vương chỉ có dung tích phòng lũ khoảng 45 triệu m3 (khi hạ mực nước đón lũ thấp hơn mực nước dâng bình thường 6m, chỉ đáp ứng được việc cắt đỉnh lũ của đợt mưa nhỏ (200-250mm). Với vũ lượng trên 1.000mm, hồ gần như mất khả năng cắt lũ.

Khi lũ cực lớn tràn về, để đảm bảo an toàn công trình, nhà máy buộc phải xả tối đa qua tràn, tua bin và đặc biệt là cửa xả đáy. Cột nước cao từ đỉnh đập đến cửa xả đáy (ví dụ: đập Sông Ba Hạ là 45,5m tạo ra dòng nước cực kỳ hung dữ, làm tăng tốc độ dòng chảy hạ du lên nhiều lần, khiến nước dâng đột ngột và dân cư không kịp trở tay.
"Trong tình huống này để đảm bảo an toàn công trình, không vỡ đập gây thảm họa cho hạ du thì nhà máy buộc phải xả tất cả các cửa xả gồm cửa xả tràn, xả tối đa qua tua bin và xả đáy. Nguy hiểm nhất là cái cột nước cao từ đỉnh đập đến cửa xả đáy đã tạo ra dòng nước mạnh cực kỳ hung dữ, làm tăng tốc độ dòng chảy hơn nhiều lần mức bình thường của dòng sông làm nước hạ du dâng đột ngột khiến người dân không kịp trở tay, thảm họa ấy đã xảy ra ở hạ du tất cả các dòng sông miền Trung vừa qua", vị chuyên gia này cho hay.
Để khắc phục, chuyên gia Hoàng Sừ kiến nghị chia quy trình vận hành liên hồ thành 2 phần, tùy thuộc vào dự báo lượng mưa.
- Với lượng mưa thông thường (200-250mm): Thực hiện theo đúng quy trình vận hành hiện có.
- Bổ sung vào quy trình vận hành liên hồ điều khoản sau: Khi có dự báo vũ lượng cực đoan (như đợt mưa giữa tháng 11 vừa qua) thì cần phải thực hiện trước khi lũ cực đoan tới bắt buộc phải xả đáy đưa mực nước trong hồ miệng xả đáy và xả suốt đợt mưa, việc này giúp cho dòng chảy đảm bảo lượng nước ra (Q out) bằng lượng nước vào (Q in), tức là mô hình "Run-of-river" (dòng chảy tự nhiên).
Cách này sẽ không tạo ra dòng chảy hung dữ từ thế năng của cột nước từ đỉnh đập đến cửa xả đáy (ở đập sông Ba Hạ là 45,5m). Hành động này sẽ bảo đảm an toàn đập, đồng thời giảm thiểu thiệt hại cho hạ du do nước dâng không quá nhanh để người dân kịp di tản tới nơi an toàn.
Khi dự báo sắp kết thúc đợt mưa thì cho đóng cửa xả tích nước về mức đón lũ, ở mức này đủ nước cho sản xuất điện cho mùa khô. Tóm lại, theo ông, cần bổ sung các điều khoản này vào quy trình vận hành liên hồ kèm theo quy trình theo dõi dự báo thời tiết đảm báo chính xác. Cách này vừa đảm bảo an toàn hồ đập, vừa an toàn cho người dân vùng hạ du và đảm bảo đủ nước cho sản xuất điện trong mùa khô.
"Trong quy chuẩn xây dựng hồ chứa không bắt buộc các đập hồ chứa phải có cửa xả đáy, tuy nhiên theo tôi đây là một thiếu sót nghiêm trọng đối với hồ chứa ở miền Trung do lưu vực lớn, địa hình đồi núi trọc rất dốc, nước lũ đổ về rất nhanh, nhất là các đợt mưa có vũ lượng quá lớn > 1.000 mm, lũ về vượt xa khả năng xả qua tràn và tua bin mà không có xả đáy là hết sức nguy hiểm. Vì vậy, cần bắt buộc các hồ chứa phải có cửa xả đáy vừa an toàn trong trường hợp thời tiết cực đoan, vừa thuận lợi cho bảo dưỡng đập khi cần", chuyên gia Hoàng Sừ nhấn mạnh.
Tăng cường linh hoạt và minh bạch
Trong khi đó, các đơn vị quản lý, vận hành hồ thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (các chủ hồ) lại bày tỏ sự đồng thuận cao với nội dung sửa đổi của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể để tăng hiệu quả vận hành.
Các chủ hồ thống nhất cao việc bổ sung thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trong việc quyết định vận hành hồ trong tình huống bất thường. Điều này giúp tăng tính linh hoạt và kịp thời xử lý khi thiên tai diễn biến phức tạp. Công ty CP Thủy điện Đăk Mi (chủ hồ thủy điện Đăk Mi 4) cho rằng, việc này góp phần tăng sự linh hoạt, thích ứng với thực tế và kịp thời xử lý các tình huống bất thường xảy ra trong công tác phòng chống thiên tai, tối ưu khả năng cắt, giảm lũ và bảo vệ an toàn hạ du.

Đối với việc hạ mực nước các hồ thấp hơn mực nước đón lũ theo quy định tại quy trình vận hành, công ty đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước bổ sung yêu cầu tính toán kịch bản vận hành điều tiết tổng thể tất cả các hồ trong lưu vực có xét đến tác động của lưu lượng bổ sung tại lưu vực hạ lưu các hồ chứa để xác định khả năng ngập lụt hạ du nhằm đánh giá hạ lưu có nguy cơ ngập lụt diện rộng trước khi đi đến quyết định; đồng thời, gửi kết quả tính toán đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan, đảm bảo tính minh bạch, hạn chế các quyết định chủ quan, mang tính định tính.
Bên cạnh đó, công ty đề nghị bổ sung nội dung yêu cầu tính toán kiểm tra ổn định và an toàn đập trong trường hợp nâng cao mực nước điều tiết của hồ chứa lên trên mực nước dâng bình thường (dung tích “siêu cao” của hồ chứa) và xem xét đánh giá ảnh hưởng của việc nâng cao trình hồ chứa đến ngập lụt vùng thượng lưu đập cũng như trách nhiệm đền bù những thiệt hại phát sinh bởi quyết định này nếu có xảy ra.
Trong khi đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng đề xuất những điều chỉnh tập trung vào việc ưu tiên phòng lũ.
Thứ nhất là vận hành linh hoạt theo mực nước hạ du: Bổ sung kịch bản vận hành khi lưu lượng lũ về các hồ đạt hoặc vượt ngưỡng, nhưng mực nước hạ du còn thấp thì xem xét vận hành hạ thấp mực nước hồ hoặc duy trì mực nước hồ (tránh tình trạng phải xả đột ngột khi lũ đã quá lớn).
Thứ hai là tăng dung tích phòng lũ: Tăng dung tích phòng lũ các hồ thủy điện lớn nhất có thể ngay từ đầu mùa lũ để gia tăng năng lực giảm lũ cho hạ du.
Việc sửa đổi quy trình vận hành liên hồ chứa lần này là cơ hội để định hình lại vai trò của thủy điện miền Trung. Các đề xuất từ chuyên gia và đơn vị quản lý đều hướng đến một mục tiêu chung là cân bằng giữa lợi ích kinh tế (sản xuất điện) và trách nhiệm xã hội (phòng chống lũ lụt).
Trong đó, điểm mấu chốt là cần phải: Phân loại rõ ràng các kịch bản lũ (lũ thông thường và lũ cực đoan); Áp dụng nguyên tắc phòng lũ là ưu tiên hàng đầu trong tình huống thiên tai cực đoan; Nâng cao tính minh bạch, linh hoạt trong điều hành.
Sự bổ sung điều khoản về vận hành "Run-of-river" khi lũ cực đoan và việc bắt buộc có cửa xả đáy sẽ là những thay đổi mang tính quyết định, giúp bảo đảm an toàn hồ đập, đồng thời giảm thiểu thảm họa cho hàng triệu người dân vùng hạ du sông miền Trung.