TP.HCM thiếu hơn 50 triệu m³ cát san lấp, lo nguồn vật liệu cho các dự án lớn
Hàng loạt công trình trọng điểm đồng loạt triển khai đang đẩy nhu cầu vật liệu xây dựng tại TP.HCM tăng cao. Trong khi nguồn cung thiếu hàng chục triệu mét khối, nhiều mỏ lớn có nguy cơ chạm công suất được cấp phép.
Cung không theo kịp cầu
Năm 2026, nhu cầu vật liệu xây dựng tại TP.HCM tăng mạnh khi nhiều dự án giao thông, hạ tầng và công trình trọng điểm cùng bước vào giai đoạn triển khai. Điều này khiến nguồn cung hiện thiếu ở hầu hết vật liệu chủ lực. Cụ thể, đá xây dựng có công suất khai thác khoảng 23,66 triệu m³, trong khi nhu cầu lên tới 28,16 triệu m³, thành phố thiếu khoảng 4,5 triệu m³.

Với cát xây dựng, khoảng cách còn lớn hơn. Nguồn cung chỉ đạt 0,69 triệu m³, trong khi nhu cầu khoảng 15,56 triệu m³, thiếu gần 14,87 triệu m³.
Đáng lo nhất là cát san lấp. Nhu cầu năm 2026 khoảng 52,89 triệu m³, nhưng nguồn cung hiện chỉ đạt khoảng 2,3 triệu m³, TP.HCM thiếu tới 50,6 triệu m³. Đất san lấp cũng thiếu khoảng 11 triệu m³. Những con số này cho thấy, bài toán vật liệu đang trở thành một trong những điểm nghẽn đối với tiến độ các dự án lớn.
Trước sức ép đó, Sở Xây dựng TP.HCM đã xây dựng kế hoạch điều phối đá, cát xây dựng, cát san lấp và đất san lấp cho các dự án trọng điểm trong năm 2026. Đồng thời tính toán nhu cầu cho giai đoạn 2027-2030.
Theo ông Khải Quốc Bình - Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, việc điều phối được tính toán theo nhu cầu của từng dự án, khả năng cung ứng của các mỏ, khoảng cách vận chuyển, yêu cầu kĩ thuật, trữ lượng và công suất được cấp phép.
Nguồn vật liệu sẽ được ưu tiên cho các công trình trọng điểm quốc gia, công trình trọng điểm của thành phố, dự án thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và dự án của nhà đầu tư chiến lược. Tuy nhiên, điều phối nguồn cung hiện có chỉ là giải pháp trước mắt. Khi nhu cầu tăng nhanh, thành phố buộc phải tìm thêm nguồn vật liệu mới.
Mỏ lớn có nguy cơ quá tải
Theo Sở NN - MT TP.HCM, nhiều chủ đầu tư, nhà thầu đang tập trung lấy đá tại các mỏ có chất lượng tốt, trữ lượng lớn như Thường Tân 3, Thường Tân 4 và Tân Mỹ. Các mỏ này đang khai thác với công suất cao. Một số doanh nghiệp dự kiến đến tháng 9/2026 sẽ đạt công suất được cấp phép trong năm.
Nếu kịch bản này xảy ra, nguồn đá cung cấp cho các công trình trọng điểm trong những tháng cuối năm sẽ chịu thêm áp lực. Trong khi đó, mở một mỏ mới không phải là câu chuyện có thể giải quyết trong thời gian ngắn. Việc đưa mỏ mới vào khai thác, mở rộng hoặc khai thác xuống sâu vẫn liên quan đến hàng loạt thủ tục về khoáng sản, đất đai, môi trường và đầu tư.

Theo Sở NN - MT, dù Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 66.4/2025 với cơ chế đặc thù, quá trình triển khai tại địa phương vẫn gặp nhiều vướng mắc. Tại một số khu vực ở Xuân Sơn, Bình Châu, Hồ Tràm, việc khoanh định khu vực khai thác vẫn chưa thống nhất.
Các nguyên nhân được nêu gồm chưa phù hợp quy hoạch địa phương, nguy cơ ảnh hưởng cảnh quan và môi trường, tác động đến đất nông nghiệp, chồng lấn với quy hoạch dự án khác, liên quan đất công hoặc các kết luận thanh tra trước đây.
Một điểm đáng chú ý khác nằm ngay trong cơ chế cung ứng. Theo Sở NN - MT, nhiều chủ mỏ vẫn đề nghị nâng công suất theo cơ chế thông thường thay vì áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 66.4/2025. Nguyên nhân là cơ chế đặc thù hiện chỉ cho phép cung cấp vật liệu cho các công trình sử dụng vốn ngân sách, chưa cho phép bán thương mại phần sản phẩm dôi dư. Đây là một nghịch lí đang xuất hiện trong quá trình tháo gỡ thiếu vật liệu.
Tháo gỡ 2 nút thắt nguồn cung và cơ chế khai thác
Trong diễn biến liên quan, Sở Xây dựng TP.HCM có Công văn số 24140/SXD-KTVLXD gửi Bộ Xây dựng, kiến nghị hoàn thiện cơ chế tiêu thụ vật liệu được khai thác theo cơ chế đặc thù.
Cụ thể, các cơ chế đặc thù của Chính phủ thời gian qua đã giúp rút ngắn thủ tục, bổ sung nguồn vật liệu cho nhiều công trình giao thông và hạ tầng cấp bách. Nhiều mỏ đá, cát, đất san lấp đã được cấp phép theo quy trình rút gọn. Nhưng quá trình khai thác thực tế lại phát sinh một vấn đề khác.
Đó là sản phẩm dôi dư. Đối với đá xây dựng, quá trình khai thác và chế biến tạo ra nhiều chủng loại với quy cách khác nhau. Trong khi đó, mỗi công trình chỉ sử dụng một số loại theo thiết kế.
Chẳng hạn, một công trình có thể cần đá 1x2, 4x6 hoặc một số loại đá khác. Phần sản phẩm còn lại sau chế biến có thể không nằm trong nhu cầu của công trình. Theo quy định hiện hành, vật liệu được khai thác theo cơ chế đặc thù chỉ được sử dụng cho những dự án thuộc phạm vi được áp dụng cơ chế này. Phần vật liệu còn lại không được tự do đưa ra thị trường.
Sở Xây dựng cho rằng điều này khiến doanh nghiệp gặp khó trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong khi nhu cầu vật liệu ngoài các công trình đầu tư công vẫn rất lớn. Bất cập này cũng khiến một số doanh nghiệp e ngại khi tham gia cơ chế đặc thù.
Bởi doanh nghiệp phải đầu tư khai thác, chế biến nhưng đầu ra của toàn bộ sản phẩm lại chưa được bảo đảm. Trong khi đó, nếu phần vật liệu dôi dư được bán hoặc điều chuyển hợp lí, nguồn tài nguyên đã khai thác sẽ được sử dụng hiệu quả hơn và thị trường có thêm nguồn cung. Đây cũng là điểm TP.HCM muốn tháo gỡ.
Từ thực tế trên, TP.HCM kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét cho phép doanh nghiệp bán thương mại hoặc điều chuyển sang các công trình trọng điểm khác phần vật liệu còn lại sau khi đã bảo đảm đầy đủ nhu cầu của các dự án thuộc cơ chế đặc thù.
Theo thành phố, việc này không làm thay đổi mục tiêu ưu tiên vật liệu cho các công trình trọng điểm. Ngược lại, nó giúp tận dụng toàn bộ sản phẩm phát sinh từ quá trình khai thác, hạn chế lãng phí và bổ sung thêm nguồn cung cho thị trường.
TP.HCM cũng đề xuất rút gọn hoặc thực hiện đồng thời các thủ tục về khoáng sản, đất đai, môi trường và đầu tư đối với các dự án khai thác phục vụ trực tiếp công trình trọng điểm.
Đối với những mỏ chỉ nâng công suất nhưng không thay đổi ranh giới, diện tích, thành phố đề xuất đơn giản hóa thủ tục. Một số cơ chế được tính đến như miễn chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc đánh giá tác động môi trường trong những trường hợp đủ điều kiện; cho phép chuyển nhượng quyền khai thác và bán thương mại sản phẩm dôi dư sau chế biến.
Thành phố cũng đề xuất doanh nghiệp nhận chuyển nhượng mỏ được kế thừa hồ sơ pháp lí của mỏ, không buộc phải thay đổi ngay tên trên giấy phép. Cách làm này nhằm rút ngắn thời gian chuyển tiếp và tránh gián đoạn khai thác.
Song song với việc tháo thủ tục cho doanh nghiệp, TP.HCM yêu cầu các ban quản lí dự án và chủ đầu tư công trình trọng điểm chủ động làm việc với các chủ mỏ. Nhu cầu vật liệu phải được đăng kí sớm. Phương án cung ứng phải được thống nhất từ đầu. Cách tiếp cận này nhằm chuyển từ thế bị động “thiếu đâu tìm đó” sang chủ động xác định nguồn cung cho từng dự án.
TP.HCM cũng kiến nghị bổ sung cơ chế đặc thù đối với khai thác cát tại hồ chứa nước, hồ thủy lợi và những khu vực nạo vét có tiềm năng vật liệu. Đây được xem là một hướng mở thêm nguồn cung trong bối cảnh cát san lấp đang thiếu tới hơn 50 triệu m³. Bài toán vật liệu vì thế không còn đơn thuần là phân bổ nguồn đá, cát đang có.
Có thể nói, TP.HCM đang đứng trước yêu cầu phải tháo cả hai nút thắt là nguồn cung và cơ chế khai thác. Nếu thủ tục tiếp tục kéo dài, nguy cơ thiếu vật liệu sẽ tác động trực tiếp đến tiến độ các dự án trọng điểm. Ngược lại, nếu cơ chế được mở đúng chỗ, lượng vật liệu đang bị giới hạn đầu ra cũng có thể trở thành một phần nguồn cung cho thị trường.
