TS Bùi Quang Xuân: Chuyển đổi số không phải cuộc đua về công nghệ
Theo TS Bùi Quang Xuân, đích đến của chuyển đổi số không phải là thêm nền tảng hay phần mềm, mà là nâng năng suất và tạo năng lực cạnh tranh mới.
Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10/2026 đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng hạ tầng, nền tảng và số hóa dữ liệu sang khai thác dữ liệu để tạo ra kết quả thực chất. Với Đồng Nai, nền tảng số đã được hình thành trên nhiều lĩnh vực, từ hạ tầng viễn thông, dịch vụ công trực tuyến đến dữ liệu y tế, giáo dục và Trung tâm điều hành thông minh.
Tuy nhiên, TS Bùi Quang Xuân (hiện công tác tại Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia, nguyên Hiệu phó Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai), cho rằng chặng đường tiếp theo không nằm ở việc có thêm bao nhiêu phần mềm, mà ở khả năng biến công nghệ và dữ liệu thành năng lực quản trị, năng suất và sức cạnh tranh.

Chuyển đổi số không thể chỉ nhìn vào tỷ lệ hồ sơ trực tuyến
- Thưa TS, Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10 năm nay đặt trọng tâm vào việc chuyển từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Theo TS, điều này đặt ra yêu cầu gì mới đối với chuyển đổi số ở các địa phương?
TS Bùi Quang Xuân: Tôi cho rằng đây là một sự chuyển trọng tâm rất đáng chú ý. Nếu những năm đầu, chuyển đổi số thường được nhìn từ góc độ đầu tư hạ tầng, xây dựng phần mềm, phát triển nền tảng và số hóa hồ sơ, thì hiện nay câu hỏi quan trọng hơn là: những thứ đã xây dựng đang tạo ra giá trị gì?
Nói cách khác, chuyển đổi số phải đi từ “có công nghệ” sang “có năng lực sử dụng công nghệ để tạo ra kết quả”. Một nền tảng tốt nhưng ít người sử dụng thì chưa tạo ra giá trị. Một kho dữ liệu lớn nhưng dữ liệu không được kết nối, chia sẻ và khai thác thì chưa trở thành nguồn lực. Một dịch vụ công trực tuyến nếu người dân vẫn phải đi lại nhiều lần để hoàn tất thủ tục thì cũng chưa thể xem là chuyển đổi số thành công.
Vì vậy, tôi nhìn chuyển đổi số theo một chuỗi rất rõ: công nghệ tạo ra dữ liệu; dữ liệu hỗ trợ quyết định; quyết định tốt tạo ra hiệu quả; hiệu quả tạo thành năng lực phát triển. Đây mới là ý nghĩa sâu xa của chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.
- Nhìn từ thực tiễn Đồng Nai, đâu là những kết quả cho thấy chuyển đổi số đang từng bước chuyển từ công nghệ sang hiệu quả quản trị?
TS Bùi Quang Xuân: Đồng Nai đã hình thành một nền tảng số khá quan trọng. Hạ tầng viễn thông được đầu tư rộng khắp với khoảng 3.600 trạm thu phát 3G/4G/5G; 100% cán bộ, công chức được trang bị máy tính và kết nối mạng băng rộng, mạng truyền số liệu chuyên dùng. Đáng chú ý, 93% thủ tục hành chính có thể thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính trong phạm vi tỉnh và 91% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến.
Trong kinh tế số, 100% doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử, kê khai thuế điện tử đạt 99%. Trong xã hội số, đã có 3.970.176 người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử và 100% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai phần mềm dạy học trực tuyến.
Những con số này rất đáng ghi nhận. Nhưng tôi cho rằng điều quan trọng hơn nằm ở bước tiếp theo: làm thế nào để những dữ liệu ấy được kết nối và chuyển hóa thành năng lực ra quyết định?
Chẳng hạn, Trung tâm điều hành thông minh đã tích hợp dữ liệu từ nhiều lĩnh vực như giao thông, y tế, giáo dục và phản ánh của người dân, qua đó hỗ trợ lãnh đạo theo dõi tình hình, nhận diện vấn đề và xử lý nhanh hơn. Khi đó, dữ liệu không còn chỉ là những con số được lưu trữ mà bắt đầu trở thành một “hạ tầng mềm” của quản trị.
- Có một con số rất đáng chú ý là 91% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến. Nhưng liệu tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao đã đồng nghĩa với chất lượng chuyển đổi số cao chưa?
TS Bùi Quang Xuân: Chưa hẳn. Và đây chính là vấn đề chúng ta cần nhìn nhận thẳng thắn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến là một chỉ báo quan trọng, nhưng chưa phải là thước đo cuối cùng. Chúng ta cần hỏi tiếp: người dân tiết kiệm được bao nhiêu thời gian? Giảm bao nhiêu chi phí đi lại? Có phải cung cấp lại những thông tin mà Nhà nước đã có hay không? Hồ sơ có được xử lý nhanh hơn không? Mức độ hài lòng của người dân tăng lên thế nào?

Nếu một người dân có thể ngồi ở nhà, sử dụng điện thoại, hoàn tất một thủ tục trong thời gian ngắn và theo dõi được tiến độ giải quyết, đó là giá trị rất cụ thể của chuyển đổi số.
Nhưng nếu một thủ tục được gọi là “trực tuyến” mà cuối cùng người dân vẫn phải in giấy, ký tay, bổ sung nhiều lần hoặc đến cơ quan nhà nước để hoàn tất, thì chúng ta mới chỉ số hóa quy trình cũ, chứ chưa thực sự chuyển đổi phương thức phục vụ.
Do đó, giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ tư duy “bao nhiêu hồ sơ trực tuyến” sang “bao nhiêu thời gian, chi phí và thủ tục được cắt giảm thực chất cho người dân, doanh nghiệp”.
Từ dữ liệu đến năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
- Một vấn đề khác là chuyển đổi số phải đến được với người dân. Đồng Nai đang có gần 2.000 tổ công nghệ số cộng đồng. Ông đánh giá thế nào về mô hình này?
TS Bùi Quang Xuân: Tôi cho rằng đây là một trong những mắt xích rất quan trọng để chuyển đổi số không bị giới hạn trong các cơ quan, doanh nghiệp hay những người có trình độ công nghệ.
Đồng Nai hiện có 1.956 tổ công nghệ số cộng đồng với 12.906 thành viên, cùng hơn 14.156 người được đào tạo về chuyển đổi số thông qua các khóa học trực tuyến mở đại trà.
Nhìn từ góc độ xã hội, những con số ấy có ý nghĩa lớn. Bởi chuyển đổi số cuối cùng vẫn phải quay về con người.
Một cụ ông biết sử dụng VNeID; một tiểu thương biết thanh toán không dùng tiền mặt; một hộ kinh doanh biết sử dụng hóa đơn điện tử; một người dân biết nộp hồ sơ trực tuyến; một người lao động biết nhận diện một đường link lừa đảo… đó đều là những biểu hiện cụ thể của năng lực số.
Tôi cho rằng cần nhìn “Bình dân học vụ số” không đơn thuần là dạy người dân cách bấm một ứng dụng. Quan trọng hơn là giúp hình thành năng lực công dân số: biết sử dụng công nghệ, biết khai thác thông tin, biết bảo vệ dữ liệu cá nhân, biết nhận diện rủi ro và biết chịu trách nhiệm với hành vi của mình trên không gian mạng.
- Như ông vừa nói, càng nhiều hoạt động chuyển lên môi trường số thì nguy cơ mất an toàn thông tin cũng tăng. Vậy chuyển đổi số có nên đặt vấn đề “an toàn số” ngang với phát triển công nghệ?
TS Bùi Quang Xuân: Chắc chắn phải như vậy. Tôi rất đồng tình với thông điệp hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 của Đồng Nai: “Chủ động kỹ năng số – Sử dụng dịch vụ số an toàn – Bảo vệ thông tin cá nhân”.
Đây không chỉ là khẩu hiệu truyền thông mà phải trở thành một yêu cầu của đời sống số.
Chúng ta đang chứng kiến người dân sử dụng ngày càng nhiều dịch vụ trực tuyến, thanh toán điện tử, định danh điện tử, giao dịch số. Nhưng cùng lúc đó là nguy cơ lừa đảo trực tuyến, giả danh cơ quan nhà nước, đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài khoản.
Vì vậy, chuyển đổi số phải đi cùng văn hóa số và đạo đức số. Người dân cần được trang bị kỹ năng tự bảo vệ; doanh nghiệp phải coi dữ liệu là tài sản cần bảo vệ; cơ quan nhà nước phải đặt an toàn thông tin ngay từ khâu thiết kế hệ thống.
Một xã hội số hiện đại không phải là xã hội có thật nhiều người dùng công nghệ, mà là xã hội trong đó con người làm chủ công nghệ mà không trở thành nạn nhân của công nghệ.
- Với cộng đồng doanh nghiệp, theo ông, chuyển đổi số cần được đặt ở đâu trong chiến lược phát triển của Đồng Nai?
TS Bùi Quang Xuân: Tôi cho rằng đây phải là một trong những động lực quan trọng để nâng năng suất và sức cạnh tranh.
Đồng Nai có lợi thế lớn về công nghiệp, logistics, thương mại và mạng lưới doanh nghiệp. Vì vậy, chuyển đổi số không nên dừng ở việc đưa doanh nghiệp lên môi trường trực tuyến. Cần đi sâu vào sản xuất thông minh, tự động hóa, quản trị chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tối ưu hóa năng suất.
Điều đáng chú ý là Đồng Nai đang triển khai Dong Nai Innovation Hub, theo hướng biến nhu cầu thực tế của doanh nghiệp thành những bài toán cần giải quyết, kết nối với chuyên gia, nhà khoa học và các nguồn lực đổi mới sáng tạo, đồng thời theo dõi quá trình từ đặt vấn đề đến kết quả cuối cùng. CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỒNG NAI.
Theo tôi, đây là cách tiếp cận rất đáng chú ý: không bắt đầu bằng câu hỏi “chúng ta có công nghệ gì?”, mà bắt đầu bằng câu hỏi “doanh nghiệp đang có bài toán gì cần giải quyết?”
Khi bài toán thực tiễn là điểm xuất phát, công nghệ sẽ có cơ hội đi đúng địa chỉ và tạo ra giá trị thật.
- Vậy theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất của chuyển đổi số Đồng Nai hiện nay?
TS Bùi Quang Xuân: Tôi cho rằng không nên chỉ nhìn điểm nghẽn ở công nghệ. Tư liệu thực tiễn cho thấy tỷ trọng kinh tế số của Đồng Nai hiện mới khoảng 10% GRDP; chất lượng nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao còn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa phát huy đầy đủ vai trò của một động lực tăng trưởng. Ở một số địa bàn cơ sở, kỹ năng và thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân vẫn còn hạn chế.
Điều đó cho thấy điểm nghẽn nằm ở cả con người, dữ liệu, thể chế, phương thức tổ chức và khả năng phối hợp.
Nếu chỉ mua thêm phần mềm mà không thay đổi quy trình, không đào tạo con người, không liên thông dữ liệu và không đo lường hiệu quả thì rất khó tạo ra bước đột phá.
Tôi đặc biệt cho rằng phải kiên trì một nguyên tắc: đã làm phải có hiệu quả và hiệu quả phải đo đếm được.
- Nếu phải đưa ra một thông điệp ngắn gọn nhân Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10 năm nay, ông muốn nhấn mạnh điều gì?
TS Bùi Quang Xuân: Tôi muốn nói rằng chuyển đổi số không phải là cuộc chạy đua về công nghệ; đó là cuộc đổi mới phương thức phát triển.
Công nghệ phải tạo ra dữ liệu. Dữ liệu phải hỗ trợ quyết định. Quyết định phải tạo ra hiệu quả. Hiệu quả phải chuyển hóa thành năng suất, sức cạnh tranh và chất lượng cuộc sống.
Vì vậy, sau ngày 10/10, điều quan trọng không phải là chúng ta có thêm bao nhiêu ứng dụng, mà là người dân được phục vụ tốt hơn bao nhiêu, doanh nghiệp tiết kiệm được bao nhiêu chi phí, chính quyền ra quyết định nhanh và chính xác hơn thế nào, năng suất lao động tăng lên ra sao và những cơ hội phát triển mới được tạo ra như thế nào.
Nếu trả lời được những câu hỏi ấy bằng những kết quả cụ thể, khi đó chuyển đổi số mới thực sự đi từ công nghệ đến năng lực phát triển.