Thời sự

TS. Vũ Văn Ái chỉ ra những điểm nghẽn trong các dự án chống ngập TP.HCM

Nguyễn Tuyết • 24/10/2026 14:00

Ngập úng tại TP.HCM ngày càng gia tăng về số điểm, diện tích và độ sâu. Tiến sĩ (TS) Vũ Văn Ái chỉ ra những điểm nghẽn trong các dự án chống ngập TP.HCM, đồng thời đề xuất giải pháp về quy hoạch thoát nước, trạm bơm và quản lý theo lưu vực nhằm ứng phó hiệu quả với mưa lớn, triều cường.

Tình trạng ngập úng kéo dài tại TP.HCM đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về rà soát quy hoạch, đánh giá năng lực hệ thống thoát nước và hiệu quả của các công trình chống ngập. Nhiều tuyến đường đã cải tạo, nâng cấp nhưng vẫn ngập khi mưa lớn hoặc triều dâng. Một số điểm ngập cũ được xử lý lại xuất hiện tình trạng ngập tại khu vực lân cận.

Phóng viên Một Thế Giới đã trao đổi với TS. Vũ Văn Ái, nguyên giảng viên Trường Đại học Bách khoa TP.HCM, về nguyên nhân ngập úng, những hạn chế trong giải pháp chống ngập hiện nay và các ưu tiên kỹ thuật để TP.HCM nâng cao năng lực ứng phó trong giai đoạn tới.

vu van ai
Theo TS. Vũ Văn Ái, tình hình ngập tại TP.HCM trong 10 năm trở lại đây ngày càng tăng cả về số lượng điểm ngập, diện tích ngập và độ sâu ngập. Ảnh: NVCC

Ngập úng TP.HCM: Địa hình thấp, triều cường cao và bài toán thoát nước chưa đồng bộ

- Nhiều tuyến đường tại khu vực TP. Thủ Đức như Võ Văn Ngân, Quốc lộ 13 và khu Thảo Điền thường xuyên ngập khi mưa lớn hoặc triều cường. Đâu là nguyên nhân chính khiến những khu vực này khó thoát nước, thưa TS?

- TS. Vũ Văn Ái: Có thể thấy ba khu vực ngập nặng là tuyến đường Võ Văn Ngân, Quốc lộ 13 và khu Thảo Điền. Tình trạng mưa là ngập trong thời gian gần đây liên quan trực tiếp đến hai yếu tố: Cao độ triều tại cửa xả rất cao, đặc biệt trong đợt đầu tháng 10; và địa hình khu vực bị ngập rất thấp.

Tại khu chợ Thủ Đức, cao độ địa hình phổ biến khoảng 0,7-1 m. Trong khi đó, cao độ triều tại cửa xả ra Rạch Thủ Đức và khu vực lân cận đạt khoảng 1,7-1,85 m.

Xét theo tỷ lệ diện tích, khoảng 25% khu vực có địa hình thấp hơn 1 m; 25% nằm trong khoảng 1-1,5 m; 20% trong khoảng 1,5-2 m và khoảng 20% cao hơn 2 m. Các đoạn kênh thoát nước phục vụ khu vực này dài gần 4 km nhưng rất hẹp, khiến khả năng vận chuyển nước bị hạn chế.

Tại Thảo Điền, địa hình còn thấp hơn. Trong khi triều cường trên sông Sài Gòn đạt khoảng 1,75-1,80 m, có tới 45-50% diện tích khu vực thấp hơn 1 m; 30% nằm trong khoảng 1-1,5 m; 15% trong khoảng 1,5-2 m và khoảng 5% cao hơn 2 m.

Khu vực Quốc lộ 13 có diện tích khoảng 450-520 ha. Trong đợt triều cường đầu tháng 10, mực triều tại cửa xả Rạch Đỉa và kênh Vĩnh Bình đạt khoảng 1,7-1,85 m. Khoảng 35% diện tích khu vực thấp hơn 1 m; 45% nằm trong khoảng 1-1,5 m; 15% trong khoảng 1,5-2 m và 5% cao hơn 2 m.

Với địa hình thấp như vậy, khi mưa lớn kết hợp triều cao, các khu vực này ngập nặng là điều có thể dự báo. Theo tính toán của tôi, chỉ cần mưa vài chục mm trong thời điểm triều lớn cũng có thể gây ngập.

Riêng khu vực chợ Thủ Đức, khi hoàn thành trạm bơm tại cống ngăn triều và mở rộng Rạch Thủ Đức để tăng khả năng thoát nước, khu vực khoảng 675 ha có thể không còn ngập khi triều cường kết hợp mưa tới 100 mm trong 3 giờ.

- TP.HCM đã triển khai nhiều công trình chống ngập, nhưng hiện tượng ngập chuyển từ nơi này sang nơi khác vẫn xảy ra. Điều này phản ánh hạn chế gì trong quy hoạch thoát nước?

- TS. Vũ Văn Ái: Hiện tượng này khá phổ biến. Khi một điểm ngập được xử lý, tình trạng ngập có thể xuất hiện hoặc nghiêm trọng hơn ở khu vực lân cận.

Nguyên nhân thường liên quan đến việc các khu vực cùng nằm trong vùng địa hình thấp và có sự lưu thông dòng chảy với nhau. Nếu điều kiện địa hình và hệ thống cống thoát nước tương đồng, việc nâng cao hoặc cải tạo một khu vực có thể làm thay đổi dòng chảy, khiến khu vực bên cạnh chịu áp lực thoát nước lớn hơn.

ngap.jpg
Ngập úng tại TP.HCM ngày càng gia tăng về số điểm, diện tích và độ sâu. Ảnh: Nguyễn Tuyết

Vì vậy, không thể chỉ xử lý riêng từng tuyến đường mà cần quy hoạch, thiết kế tổng thể hệ thống thoát nước mưa và ngăn triều cho cả khu vực có liên quan. Tùy từng trường hợp, phải khảo sát để xác định nguyên nhân cụ thể khiến điểm ngập dịch chuyển, từ đó lựa chọn giải pháp phù hợp.

- Có ý kiến cho rằng hệ thống cống hiện nay đã lạc hậu so với tốc độ đô thị hóa và biến đổi khí hậu. Ông đánh giá thế nào về nhận định này?

- TS. Vũ Văn Ái: Cho rằng toàn bộ hệ thống cống hiện hữu đã lạc hậu là chưa hoàn toàn chính xác. Cần có đầy đủ số liệu khảo sát, đánh giá và phân vùng thoát nước để xác định khu vực nào cần đầu tư mới, khu vực nào có thể tiếp tục sử dụng hệ thống hiện hữu.

Các thông số thiết kế phải tính đến sự thay đổi của điều kiện tự nhiên theo thời gian. Năm 1999, đỉnh triều cực đại tại Phú An khoảng 1,31-1,36 m; tổng lượng mưa tháng 11 là 417,3 mm và lượng mưa lớn nhất trong một ngày là 79,9 mm.

Đến năm 2026, cao độ triều lớn nhất tại Phú An đã vượt 1,78 m, trong khi lượng mưa lớn nhất có thể vượt 200 mm. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu phải dự báo các thông số tương ứng cho những năm 2030, 2050.

Trên cơ sở đó, thành phố mới có thể thiết kế hệ thống thoát nước phù hợp, giảm chi phí đầu tư và hạn chế nguy cơ công trình nhanh chóng không đáp ứng yêu cầu. Nếu được đánh giá đúng, hệ thống cống hiện hữu vẫn có thể tiếp tục sử dụng ở những mức độ nhất định.

- Ngoài mưa lớn và triều cường, sụt lún nền đất cũng là thách thức đối với hạ tầng chống ngập. Theo ông, những yếu tố nào cần được làm rõ khi đánh giá vấn đề này?

- TS. Vũ Văn Ái: Mặt đất lún xuống và mực nước biển dâng lên đang tạo ra thách thức lớn đối với TP.HCM, Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới. Những biến đổi này chịu tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con người.

Theo số liệu tôi nêu, tại trạm quan trắc Vũng Tàu, mực nước biển trong 10 năm trở lại đây tăng khoảng 4,1-5,2 mm mỗi năm, cao hơn mức khoảng 3-3,5 mm mỗi năm của giai đoạn trước. Trong khi đó, mực nước triều tại Phú An trong 10 năm qua tăng thêm vài chục cm. Một số thông tin công bố mức tăng lớn hơn rất nhiều cần được xem xét về độ chính xác.

Đối với sụt lún, cần phân tích rõ từng cơ chế thay vì chỉ nói chung chung rằng nguyên nhân là khai thác nước ngầm hoặc tải trọng công trình cao tầng.

Thứ nhất, việc làm khô bề mặt đất, khiến tầng đất phủ mất nước, có thể làm vài mét đất phía trên bị cố kết, co ngót thể tích và lún xuống. Đây là một trong những vấn đề lớn nhất cần quan tâm.

Thứ hai, khai thác nước ngầm làm giảm áp suất lỗ rỗng trong các tầng chứa nước, đồng thời hạ thấp mực nước ngầm. Tại TP.HCM, nước ngầm được khai thác chủ yếu từ các tầng sâu khoảng 40 m, 70 m đến 200 m. Quá trình này khiến tầng chứa nước lún nhiều hơn, sau đó ảnh hưởng đến các tầng địa chất phía trên và cuối cùng là bề mặt đất.

Năm 2010, TP.HCM triển khai hai trạm quan trắc biến dạng mặt đất tại Khu công nghiệp Tân Tạo và khu dân cư Bình Đăng. Số liệu được thu thập trong hai năm 2013 và 2014, với tổng kinh phí khoảng gần 12 tỉ đồng. Sau đó, do không được phê duyệt kinh phí quan trắc và bảo vệ trạm, hoạt động này tạm ngưng. Theo tôi, việc duy trì quan trắc là cần thiết để có dữ liệu đánh giá đáng tin cậy.

Thứ ba, tải trọng lớn từ các tòa nhà cao tầng tác động lên các tầng địa chất chịu lực cũng cần được tính toán cụ thể. Một công trình có thể không lún hoặc lún không đáng kể trong giai đoạn đầu, nhưng về lâu dài cần đánh giá khả năng lún tích lũy của các tầng chịu lực. Thành phố cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tính toán, quản lý và theo dõi vấn đề này.

ngap-thu-duc.2.jpg
Mưa lớn khiến hẻm 789 Tỉnh lộ 43 (phường Thủ Đức) ngập sâu. Ảnh: Minh Quân

Chống ngập TP.HCM giai đoạn 2026-2030: Cần trạm bơm đủ lớn và quản lý theo lưu vực

- Dự án chống ngập 10.000 tỉ đồng cùng nhiều công trình cải tạo kênh rạch đang được đẩy nhanh tiến độ. Khi các công trình đi vào vận hành, TP.HCM có thể giải quyết triệt để ngập do triều cường hay không?

- TS. Vũ Văn Ái: Các dự án lớn như dự án chống ngập 10.000 tỉ đồng, dự án Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật, cống ngăn triều Bến Nghé, cải tạo rạch Xuyên Tâm, cải tạo Rạch Thủ Đức, các dự án kè bổ sung và hệ thống điều khiển SCADA khi hoàn thành sẽ góp phần cơ bản giải quyết tình trạng ngập do triều cường tại TP.HCM.

Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào điều kiện của từng lưu vực và khả năng thoát nước mưa bên trong khu vực được bảo vệ. Ngăn triều không đồng nghĩa với việc nước mưa có thể thoát hết ra ngoài khi mực nước bên ngoài cao.

Với dự án chống ngập 10.000 tỉ đồng, lưu vực kiểm soát khoảng 570 km², giai đoạn 1 có sáu cống ngăn triều lớn, hai cống ngăn triều nhỏ và 7,8 km đê bao đang được triển khai để đưa vào hoạt động trong tháng 11/2026. Khi hoàn thành, dự án được kỳ vọng bảo vệ, hỗ trợ thoát nước cho khoảng 6,5 triệu người dân TP.HCM khi triều cường.

Trong sáu cống ngăn triều lớn, ba cống được lắp đặt bơm thoát nước với tổng lưu lượng khoảng 200.000 m³/giờ; ba cống lớn còn lại không được trang bị bơm thoát nước.

Khi triều cao, các cống phải đóng để ngăn nước triều. Nếu bên trong khu vực kiểm soát xuất hiện mưa, lượng nước mưa không thể tự thoát ra ngoài như khi mực nước bên ngoài thấp. Khi đó, năng lực của các trạm bơm trở thành yếu tố quyết định. Đặc biệt, những khu vực thuộc phạm vi kiểm soát của ba cống lớn không có bơm thoát nước sẽ gặp hạn chế đáng kể.

Thông số thiết kế của dự án được xây dựng từ năm 2008, với giả thiết mưa 85,3 mm trong 3 giờ khi triều ở mức 1,32 m. Trong điều kiện hiện nay, nhiều trận mưa có thể lớn hơn đáng kể so với giả thiết thiết kế ban đầu. Vì vậy, cần xem xét lại năng lực thoát nước mưa khi hệ thống cống phải đóng để ngăn triều. Theo đánh giá của tôi, quy mô giai đoạn 2 cũng chưa giải quyết được yêu cầu cấp thiết về bổ sung bơm tại những vị trí cần thiết.

- Riêng dự án Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật, đâu là những điểm nghẽn kỹ thuật cần xử lý để nâng cao hiệu quả chống ngập?

- TS. Vũ Văn Ái: Hệ thống kênh chính của dự án có chiều dài khoảng 32 km, từ thượng nguồn đến cống ngăn triều Vàm Thuật, với lưu vực kiểm soát khoảng 4.500 ha. Do chiều dài dòng chảy lớn, thời gian vận chuyển nước có thể lên tới 9-15 giờ, tùy điều kiện dòng chảy.

Tại cống ngăn triều Vàm Thuật hiện không thiết kế bơm thoát nước. Điều này khiến việc điều khiển mực nước trong kênh, đặc biệt ở phía thượng nguồn, trở nên khó khăn trong khi sông Sài Gòn vận hành theo chế độ bán nhật triều.

Việc sử dụng 43 van một chiều lá lật tại dự án không thể giải quyết hết các vấn đề nếu chênh lệch mực nước hai phía cửa van nhỏ. Hệ thống còn những hạn chế khác cần được đánh giá và xử lý.

Theo tôi, cần sớm tăng khả năng thoát nước mưa cục bộ bằng cách khơi thông các kênh chính và bố trí trạm bơm đưa nước mưa vào kênh Tham Lương tại những khu vực cần thiết, như sân bay Tân Sơn Nhất và đường Phan Huy Ích.

Đồng thời, cần nghiên cứu bố trí trạm bơm lớn tại cống ngăn triều Vàm Thuật và nâng cấp hạ tầng điều tiết mực nước trên toàn tuyến Tham Lương - Vàm Thuật dài 32 km. Tùy kết quả tính toán, có thể phải bổ sung trạm bơm và cống ngăn triều trung gian.

- Đối với khu vực Quận 7 và Nhà Bè, nơi chịu tác động trực tiếp của triều cường, các công trình ngăn triều cần được vận hành như thế nào để hạn chế ngập khi có mưa lớn?

- TS. Vũ Văn Ái: Quận 7 và Nhà Bè nằm trong lưu vực thoát nước thuộc dự án chống ngập 10.000 tỉ đồng. Với hệ thống cống ngăn triều và đê bao, khả năng bảo vệ khu vực trước nước triều sẽ được cải thiện khi dự án hoàn thành.

Tuy nhiên, vấn đề cần giải quyết là nước mưa bên trong lưu vực sẽ đi đâu khi các cống đóng để ngăn triều. Nếu không có đủ công suất bơm để đưa nước mưa ra ngoài, tình trạng ngập vẫn có thể xảy ra dù nước triều đã được ngăn.

Do đó, cần tính toán năng lực bơm theo lượng mưa dự báo, đồng thời xem xét điều kiện của từng khu vực kiểm soát. Đây là yêu cầu quan trọng đối với những lưu vực có địa hình thấp và không gian điều tiết nước mưa hạn chế.

- Thành phố có thể áp dụng mô hình đô thị bọt biển, phát triển hồ điều hòa, vỉa hè thấm nước và hạ tầng xanh để giảm áp lực cho hệ thống thoát nước hay không?

- TS. Vũ Văn Ái: Hồ điều hòa, vỉa hè thấm nước và hạ tầng xanh là những giải pháp cần thiết trong quá trình phát triển thành phố xanh. Những nơi có điều kiện phù hợp nên được nghiên cứu triển khai. TP.HCM có nhiều khu vực thuận lợi để xây dựng hồ điều tiết và phát triển hạ tầng xanh, trong đó có những khu vực thành phố đã lên kế hoạch thực hiện.

Ngoài hồ điều hòa trên mặt đất, theo tôi, có thể thiết kế hồ điều tiết ngầm ở độ sâu lớn để tăng thể tích chứa nước. Phía trên có thể bố trí công viên hoặc các công trình hạ tầng khác.

Giải pháp này cần được tính toán theo điều kiện địa hình, địa chất và khả năng thực hiện của từng khu vực. Không phải nơi nào cũng có thể áp dụng giống nhau, nhưng đây là hướng cần xem xét trong quy hoạch đô thị và thoát nước.

- Nếu xác định ba ưu tiên kỹ thuật cho chiến lược chống ngập TP.HCM giai đoạn 2026-2030, ông sẽ kiến nghị những vấn đề gì?

- TS. Vũ Văn Ái: Theo tôi, nhiệm vụ chống ngập tại TP.HCM cần phân biệt rõ hai cấp độ: Giải quyết ngập do triều cường và giải quyết ngập khi triều cường kết hợp mưa lớn.

Phần lớn các lưu vực đang ngập tại TP.HCM chưa giải quyết được đầy đủ cấp độ thứ hai. Nguyên nhân là nhiều khu vực có địa hình thấp, trong khi không gian dành cho điều tiết nước mưa ngày càng bị thu hẹp do quy hoạch. Vì vậy, cần thiết kế và lắp đặt các trạm bơm đủ lớn tại các cống ngăn triều, với công suất dựa trên dự báo lượng mưa.

Ưu tiên thứ nhất là dự báo chính xác cao độ triều trên sông Sài Gòn tại các trạm quan trọng. Ưu tiên thứ hai là đánh giá hiện trạng và dự báo sụt lún bề mặt đất trong tương lai bằng số liệu đủ độ tin cậy và có cơ sở khoa học. Ưu tiên thứ ba là dự báo mức độ biến đổi khí hậu, trong đó có lượng mưa và nắng nóng, trong những năm tới.

Thành phố cần giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng đơn vị chuyên môn nghiên cứu, đánh giá và tính toán các thông số này. Dữ liệu dự báo phải có cơ sở khoa học và độ tin cậy cao để phục vụ thiết kế, vận hành hệ thống thoát nước.

Về quản lý, cần chuyển trọng tâm sang tổ chức thoát nước theo các lưu vực có đặc điểm kỹ thuật tương đồng, thay vì quá phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Cách tiếp cận này giúp tính toán dòng chảy và phương án thoát nước trên phạm vi thực tế của lưu vực.

Tuy nhiên, không nên loại bỏ hoàn toàn giải pháp xử lý cục bộ. Trong một số trường hợp, thành phố vẫn cần giải quyết nhanh một điểm ngập vì yêu cầu cấp bách về xã hội, kinh tế hoặc mục đích đặc biệt, nhất là khi giải pháp tổng thể cho cả lưu vực chưa thể triển khai kịp thời hoặc có chi phí quá lớn.

Một vấn đề khác là cần nâng cao năng lực của các trạm bơm dự phòng di động. Hiện nay, nhiều máy bơm có lưu lượng 500, 1.000 hoặc 2.000 m³/giờ, với công suất vài trăm mã lực. Tôi cho rằng cần nghiên cứu thay đổi cấu trúc bơm để đạt lưu lượng 5.000, 10.000, 20.000 hoặc 30.000 m³/giờ trong khi vẫn giữ nguyên công suất động cơ.

Nếu thực hiện được, giải pháp này có thể giúp tăng đáng kể khả năng xử lý ngập tại những khu vực như Phan Huy Ích, Hồ Học Lãm, Thảo Điền và chợ Thủ Đức, kể cả khi lượng mưa vượt thiết kế ban đầu. Tuy nhiên, hiệu quả còn phụ thuộc vào việc khơi thông dòng chảy, bảo đảm các tuyến cống nhánh và kênh thoát chính đủ khả năng dẫn nước.

Về lâu dài, chống ngập TP.HCM không thể chỉ dựa vào việc xây thêm cống hoặc nâng đường tại từng điểm. Thành phố cần kết hợp dự báo, quy hoạch theo lưu vực, đầu tư trạm bơm phù hợp và duy trì hệ thống quan trắc để các công trình đáp ứng được điều kiện mưa, triều cường và địa hình đang thay đổi.

- Xin cảm ơn ông!

Nổi bật
      Mới nhất
      TS. Vũ Văn Ái chỉ ra những điểm nghẽn trong các dự án chống ngập TP.HCM
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO