Từ 16 tỉ USD kiều hối đến ‘nửa GDP Việt Nam’ ở hải ngoại
Chúng ta nghe tin rằng cộng đồng người Việt ở Quận Cam (Nam California) “rất nghèo”. Nhưng chúng ta cũng đọc tin rằng mỗi năm người Việt ở hải ngoại gởi về Việt Nam khoảng 16 tỉ USD (con số 2024), và đa số tiền này là đến từ Mỹ.
Kiều hối về Việt Nam đến từ đâu?
Theo số liệu (hơi cũ, 2015) của IOM/WB, Mỹ là nguồn kiều hối lớn nhất gửi về Việt Nam. Tổng số kiều hối năm 2015 là 13 tỉ USD, và trong số này, Mỹ đóng góp chừng 7,4 tỉ USD (57%).
Australia cũng đóng góp khoảng 1,12 tỉ USD (8,6% tổng số kiều hối); Canada, 923 triệu USD (7, 1%); Pháp là nước có gần 400.000 người Việt định cư nhưng chỉ đóng góp khoảng 623 triệu USD (4.8%).
Nếu dùng theo tỉ lệ trên để tính ra mức đóng góp kiều hối 16 tỉ USD năm 2024 tỷ trọng có thể như sau: Mĩ: 9,1 tỉ USD; Australia 1,38 tỉ USD; Canada 1,14 tỉ USD và Pháp 0,77 tỉ USD.

GDP của người Việt ở hải ngoại như thế nào?
Đọc qua những con số, tôi tự hỏi: cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang tạo ra bao nhiêu giá trị kinh tế tại các nước họ định cư?
Không có thống kê chính thức nào đo riêng “GDP của cộng đồng người Việt” ở Mỹ, Australia, Canada hay Pháp. GDP là chỉ tiêu quốc gia, không phải chỉ tiêu sắc tộc.
Nhưng chúng ta có thể làm một tính rợ. Lấy số người gốc Việt ở mỗi nước nhân với GDP bình quân đầu người của nước đó. Đây không phải là thu nhập thật của từng người Việt, cũng không phải phần GDP mà cộng đồng Việt “sở hữu”. Nó chỉ là một chỉ số rất thô về qui mô kinh tế mà cộng đồng đó đang tham gia tạo ra trong môi trường kinh tế của nước họ.
Với cách tính rợ đó, bức tranh hiện ra khá thú vị. Tại Mỹ, cộng đồng người Việt được ước tính khoảng 2,3 triệu người. GDP bình quân đầu người của Mỹ năm 2024 là khoảng 84.500 USD. Nhân hai con số này, chúng có một “GDP proxy” của cộng đồng người Việt tại Mỹ là khoảng 194 tỉ USD. Riêng con số này đã bằng khoảng 40% GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024.
Tại Austrlia, nếu dùng con số khoảng 335.000 người có gốc Việt (theo điều tra dân số), nhân với GDP bình quân đầu người của Australia khoảng 64.600 USD, qui mô kinh tế tương đương của cộng đồng Việt vào khoảng 21,6 tỉ USD.
Tại Canada, với khoảng 276.000 người gốc Việt và GDP bình quân đầu người khoảng 54.300 USD, con số là gần 15 tỉ USD.
Tại Pháp, nếu dùng ước tính khoảng 400.000 người gốc Việt và GDP bình quân đầu người khoảng 46.100 USD, qui mô kinh tế tương đương của cộng đồng Việt khoảng 18,4 tỉ USD. Cộng 4 cộng đồng người Việt tại Mỹ, Australia, Canada và Pháp, tổng “GDP proxy” vào khoảng 249 tỉ USD mỗi năm. So với GDP Việt Nam năm 2024 (476 tỉ USD), con số 249 tỉ USD này tương đương hơn phân nửa.
Khi Việt Nam đã trở thành nền kinh tế gần 500 tỉ USD, cách nhìn về kiều hối cũng cần khác đi.
Ở giai đoạn nghèo hơn, kiều hối là cứu trợ gia đình. Ở giai đoạn phát triển cao hơn, kiều hối và người Việt hải ngoại nên được xem như một phần của chiến lược nâng cấp quốc gia.
Tiền gửi về vẫn quan trọng, nhưng quan trọng hơn là làm sao kết nối được người Việt hải ngoại vào các mục tiêu dài hạn: công nghệ, giáo dục, quản trị, y tế, văn hóa và thương hiệu Việt Nam.Giáo sư Nguyễn Tuấn
Ý nghĩa đằng sau những con số
Tôi đưa ra so sánh có tính gợi ý hơn là xác định vì mấy con số còn có bất định. Nhưng nó giúp chúng ta nhìn cộng đồng Việt hải ngoại bằng một khung khác: không chỉ là những người nghèo khổ, "neo tộc", gởi tiền về quê, mà là một phần mở rộng kinh tế, xã hội và tri thức của Việt Nam trong thế giới phát triển.
Từ góc nhìn chính sách, sự khác biệt giữa 16 tỉ USD kiều hối và 249 tỉ USD năng lực kinh tế hải ngoại là rất lớn. Kiều hối là dòng tiền đã chảy về. Còn “GDP proxy” là năng lực đang nằm trong mạng lưới: thu nhập, nghề nghiệp, doanh nghiệp, kĩ năng, vốn xã hội, quan hệ thị trường, hiểu biết pháp lí, khả năng kết nối đầu tư, công nghệ và giáo dục. Nếu Việt Nam chỉ nhìn cộng đồng hải ngoại như nguồn ngoại tệ gởi về mỗi năm, thì mới khai thác một phần rất nhỏ của tài sản vô hình đó.
Câu hỏi là làm sao biến quan hệ gia đình thành quan hệ phát triển, biến kiều hối tiêu dùng thành vốn sản xuất, biến lòng gắn bó quê hương thành kết nối kinh tế dài hạn?
Trong nhiều năm, kiều hối về Việt Nam phần lớn đi vào tiêu dùng gia đình, nhà đất, giáo dục, y tế và một phần đầu tư nhỏ. Với nhiều gia đình, tiền gởi từ nước ngoài là chiếc phao an sinh quan trọng. Nó giúp trẻ em được học tốt hơn, người già được chăm sóc tốt hơn, nhà cửa tốt hơn, và nhiều gia đình có vốn để buôn bán.

Nhưng ở cấp quốc gia, vấn đề kế tiếp là làm sao để một phần dòng tiền đó đi vào các kênh có năng suất cao hơn: doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, đào tạo nghề, chuyển đổi số, du lịch, công nghiệp sáng tạo và đầu tư địa phương.
Điều này đòi hỏi nhiều hơn lời kêu gọi “người Việt ở nước ngoài hãy đầu tư về quê hương”.
Người có tiền và có kĩ năng thường cần ba thứ: niềm tin, cơ chế rõ ràng và cơ hội đủ hấp dẫn.
Kiều bào có thể yêu quê hương, nhưng quyết định đầu tư vẫn dựa trên tính minh bạch, khả năng bảo vệ tài sản, thủ tục, thuế, pháp lí, khả năng chuyển vốn, và sự tôn trọng đối với kinh nghiệm quốc tế của họ.
Cũng cần phân biệt giữa 3 lớp đóng góp của cộng đồng hải ngoại:
Lớp thứ nhất là kiều hối gia đình: tiền gởi trực tiếp cho người thân.
Lớp thứ hai là đầu tư và kinh doanh: mở công ty, mua cổ phần, góp vốn, đưa sản phẩm Việt vào chuỗi phân phối ở nước ngoài, hoặc đưa công nghệ nước ngoài về Việt Nam.
Lớp thứ ba là vốn tri thức và mạng lưới: chuyên gia, giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học, luật sư, nhà quản lý, v.v. Lớp thứ ba thường khó đo nhất, nhưng về dài hạn có thể có tác động sâu nhất.
Con số 249 tỉ USD “GDP proxy” của 4 cộng đồng người Việt lớn ở Mỹ, Australia, Canada và Pháp không nên được hiểu là Việt Nam có thể “thu về” số tiền đó. Dĩ nhiên. Không quốc gia nào có thể thu hồi GDP của công dân hay người gốc mình ở nước khác. Nhưng con số đó cho thấy rằng ngoài lãnh thổ Việt Nam còn có một không gian Việt Nam khác: giàu kĩ năng hơn, có thu nhập cao hơn, tiếp cận thị trường phát triển hơn, và đang nằm trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới.
Vấn đề là Việt Nam có đủ cơ chế, niềm tin và tầm nhìn để biến tình cảm ấy thành hợp tác cụ thể hay không.