Thời sự

Từ mái trường đến pháp đình: Tại sao phải rèn kỷ luật trước khi quá muộn?

Nam Phong (thực hiện) 27/09/2025 10:36

Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu - chuyên gia tội phạm học, nhấn mạnh rằng khoảng cách “từ mái trường đến pháp đình là không quá xa, nếu ngay từ nhỏ, ở các cấp học phổ thông, trẻ không được uốn nắn trong môi trường học đường có kỷ cương, kỷ luật.

z7052871681354_0dbfdd951e2d104d747b8cf1f9cd8abb(2).jpg
Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu

Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 1.10 đánh dấu bước ngoặt trong công tác kỷ luật học đường khi bỏ các hình thức đình chỉ học và buộc thôi học. Tinh thần nhân văn của thông tư được xã hội đánh giá cao, nhưng cũng dấy lên nhiều băn khoăn về việc liệu “nới tay” có dẫn đến “nhờn luật” và suy giảm kỷ cương trường lớp.

Trong cuộc trao đổi với Một Thế Giới, thượng tá, TS Đào Trung Hiếu - chuyên gia tội phạm học nhấn mạnh rằng khoảng cách “từ mái trường đến pháp đình là không quá xa, nếu ngay từ nhỏ, ở các cấp học phổ thông, trẻ không được uốn nắn trong môi trường học đường có kỷ cương, kỷ luật.

- Thông tư 19/2025 của Bộ GD-ĐT chính thức có hiệu lực từ ngày 1.10. Thượng tá đánh giá thế nào về ý nghĩa nhân văn của thông tư khi loại bỏ các hình thức kỷ luật như đình chỉ học, buộc thôi học?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Trước tiên, tôi đánh giá đây là bước tiến thể hiện tư duy nhân văn của ngành giáo dục, vì nó thừa nhận rằng tuổi học trò là giai đoạn đang hình thành nhân cách, cần được nâng đỡ, định hướng hơn là bị đẩy ra ngoài lề.

Theo tôi, việc loại bỏ các biện pháp đình chỉ, buộc thôi học giúp duy trì mối liên kết tích cực giữa học sinh với thầy cô và bạn bè, giảm nguy cơ tái diễn hành vi lệch chuẩn. Chính sách này phù hợp với xu thế quốc tế về giáo dục phục hồi, lấy cơ hội sửa sai làm trung tâm.

Tuy nhiên, nếu thiếu quy trình thực thi, thiếu phân tầng vi phạm và thiếu nguồn lực tâm lý học đường, tinh thần nhân văn rất dễ trở thành “nhân văn trên giấy”, tức là chúng ta có văn bản đẹp nhưng lại không kiểm soát nổi hành vi thực tế.

Nếu chỉ dừng lại ở các hình thức như nhắc nhở, phê bình hay viết kiểm điểm, chắc chắn là không đủ để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong nhà trường.

Đối với hành vi bạo lực học đường, xâm hại, hoặc liên quan đến ma túy, phải kích hoạt kênh pháp luật và bảo vệ trẻ em, đồng thời áp dụng biện pháp giáo dục tăng cường như tách nhóm, lao động công ích, khắc phục hậu quả.

Phải có cơ chế theo dõi và hỗ trợ phục hồi chuyên sâu để bảo đảm tính công bằng và bảo vệ nạn nhân. Nếu thiếu những công cụ này, chúng ta không chỉ bỏ lỡ cơ hội sửa sai mà còn để “mầm tội phạm” lớn lên ngay trong nhà trường.

dao trung hieu
TS Đào Trung Hiếu: "Nếu thiếu quy trình thực thi, thiếu phân tầng vi phạm và thiếu nguồn lực tâm lý học đường, tinh thần nhân văn rất dễ trở thành “nhân văn trên giấy”, tức là chúng ta có văn bản đẹp nhưng lại không kiểm soát nổi hành vi thực tế" - Ảnh: NVCC

- Việc bỏ các chế tài mạnh có thể khiến một số học sinh nhờn luật, vậy theo thượng tá, nguy cơ này có đáng lo ngại không?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Có thể nói, đây là một nguy cơ đáng để cảnh giác. Thứ nhất, trong tâm lý học tội phạm, tính chắc chắn và kịp thời của hậu quả có sức răn đe mạnh hơn mức độ nặng nhẹ của hình phạt. Thứ hai, nếu nhà trường không áp dụng một quy trình nghiêm túc, nhất quán, học sinh sẽ nhận ra sự lỏng lẻo và dễ coi nhẹ quy định. Bên cạnh đó, chính sự thiếu rèn giũa này có thể khiến trẻ dần hình thành tâm lý coi thường luật lệ, mà hệ quả lâu dài là khi trưởng thành các em dễ sa vào hành vi phạm pháp, trở thành tội phạm hoặc nạn nhân của tội phạm.

- Từ góc nhìn tội phạm học, ông có cho rằng giảm sức răn đe trong môi trường giáo dục sẽ ảnh hưởng đến ý thức chấp hành luật pháp của giới trẻ về sau?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Tôi cho rằng nếu giảm sức răn đe mà thiếu cơ chế giám sát, nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến ý thức pháp luật của giới trẻ là rất rõ. Một là, thói quen coi nhẹ quy tắc ở tuổi học trò sẽ hình thành “chuẩn lệch” về hành vi xã hội sau này. Hai là, sự thiếu vắng những hậu quả rõ ràng dễ khiến các em tin rằng luật pháp chỉ là hình thức, có thể lách hoặc bỏ qua.

Ngoài ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy môi trường giáo dục kết hợp kỷ luật nghiêm với cơ hội phục hồi mới thực sự nuôi dưỡng ý thức pháp quyền nội tại, giúp học sinh tuân thủ vì tin tưởng chứ không chỉ vì sợ hãi.

- Kỷ luật học sinh không chỉ mang tính trừng phạt mà còn mang ý nghĩa giáo dục. Theo thượng tá, Thông tư 19 đã cân bằng hai yếu tố này hợp lý chưa?

- Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu: Về nguyên tắc, Thông tư 19 đã đặt nền móng cho một cách tiếp cận mới, nhưng mới dừng ở việc “bỏ nặng” mà chưa hoàn thiện khâu phân tầng và chế tài. Một là, cần xây dựng bảng phân loại vi phạm theo 3 cấp độ khác nhau và gắn kèm các biện pháp từ nhẹ đến nặng một cách hợp lý. Hai là, nhà trường nên đặt ra tiêu chí theo dõi và thời hạn cải thiện để học sinh hiểu rằng phục hồi không phải “không hình phạt” mà là “hình phạt có mục tiêu và lộ trình”. Nếu không có lộ trình, chúng ta dễ đánh mất công cụ rèn giũa học sinh, mà thực chất là đánh mất cơ hội phòng ngừa tội phạm tương lai.

TS Đào Trung Hiếu
TS Đào Trung Hiếu: Nhà trường nên đặt ra tiêu chí theo dõi và thời hạn cải thiện để học sinh hiểu rằng phục hồi không phải “không hình phạt” mà là “hình phạt có mục tiêu và lộ trình” - Ảnh: NVCC

Muốn giáo dục hiệu quả phải có biện pháp theo tầng: học sinh vi phạm trước tiên được nhắc nhở, sau đó làm bản kiểm điểm lần 1, 2, 3, tiếp đến mời bố mẹ đến cùng phối hợp. Nghiêm trọng hơn có thể hạ hạnh kiểm, đình chỉ 1 - 3 ngày tùy mức độ vi phạm. Nếu nặng phải đưa ra hội đồng kỷ luật với đầy đủ thành phần: ban giám hiệu, học sinh, phụ huynh, công an, tổ trưởng dân phố. Ý kiến này cho thấy nhiều giáo viên đang thực sự mong muốn có “bảng thang chế tài” để không bị bó tay trước các hành vi nghiêm trọng.

- Nhiều giáo viên lo ngại mất công cụ duy trì kỷ cương lớp học. Tiến sĩ có khuyến nghị gì để họ vừa tuân thủ thông tư vừa giữ được tính nghiêm túc? Ý kiến của ông về quan điểm cần duy trì “chiếc roi” trong trường?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Tôi cho rằng “chiếc roi” nên được hiểu lại. Một là, không thể đồng nhất kỷ luật với bạo lực thân thể, mà phải coi “chiếc roi” là hệ thống quy định và chế tài rõ ràng. Hai là, giáo viên cần có quy tắc lớp học đồng kiến tạo với học sinh để tăng cam kết; mỗi vi phạm phải gắn liền với một hậu quả dự báo được.

Bên cạnh đó, giáo viên phải được tập huấn kỹ năng quản trị lớp, kỹ năng can thiệp ngắn và kỹ thuật đối thoại phục hồi để giữ được sự nghiêm túc nhưng không làm tổn hại phẩm giá học sinh. Chỉ khi làm được vậy, trường học mới thực sự “rèn” mà không “đánh”, kỷ luật mà vẫn nhân văn.

- Môi trường giáo dục có vẻ đang mất dần quy tắc quan hệ thầy - trò. Là người học võ, thượng tá có chia sẻ gì?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Trong võ đường, kỷ luật không đến từ sợ hãi mà từ nghi lễ và nền nếp. Một là, học viên quỳ bái sư, chào thầy trước khi vào lớp, chào đồng môn khi kết thúc, giữ kỷ luật như một phần danh dự. Hai là, nhà trường có thể “mượn” nguyên tắc này: duy trì nghi lễ đầu - cuối tiết học, xây dựng nhóm trưởng lớp như “quản chúng” để lan truyền kỷ luật ngang hàng và bắt buộc phản tỉnh dưới dạng nhật ký ngắn sau mỗi vi phạm như một hình thức “tịnh tâm nhập thức” để học sinh tự soi xét bản thân.

Cũng cần khơi lại truyền thống "tôn sư trọng đạo" bằng hoạt động văn hóa, thể chất, võ thuật để kỷ luật trở thành nền nếp chứ không phải hình phạt.

- Vai trò của phụ huynh sẽ thế nào khi các hình thức kỷ luật nghiêm khắc bị loại bỏ? Theo ông, cần cơ chế phối hợp ra sao?

- Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu: Khi các chế tài nghiêm khắc bị loại bỏ, phụ huynh phải trở thành đối tác đồng quản trị kỷ luật cùng nhà trường:

- Cần có biên bản phối hợp, cam kết hành vi và theo dõi tại gia đình cho các vi phạm mức độ trung bình và nghiêm trọng.

- Nhà trường phải thiết lập cơ chế báo cáo định kỳ để phụ huynh không chỉ “bị mời lên” theo sự vụ mà trở thành một phần của quá trình giáo dục phục hồi. Bên cạnh đó, cần có cơ chế chia sẻ trách nhiệm rõ ràng để tránh tình trạng “trường thả - nhà bỏ”.

- Ở nhiều quốc gia, mô hình “giáo dục phục hồi” đi kèm hệ thống chuyên gia tâm lý học đường. Thượng tá, tiến sĩ có nghĩ rằng Việt Nam đã sẵn sàng về nguồn lực này?

Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu - Chuyên gia tội phạm học
Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Nếu chúng ta không rèn giũa các em hôm nay, chúng ta sẽ phải xử lý họ trong tư cách tội phạm ngày mai - Ảnh: NVCC

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Việt Nam hiện mới ở giai đoạn khởi đầu nên chưa thể đáp ứng đầy đủ mô hình này. Một là, cần đào tạo ngắn hạn cho giáo viên nòng cốt về kỹ thuật phục hồi. Hai là, phải kết nối mạng lưới chuyên gia ngoài trường và tận dụng các đoàn thể để hỗ trợ.

Nếu không, việc chỉ dừng ở nhắc nhở, phê bình hay viết kiểm điểm sẽ không đủ để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong nhà trường. Bên cạnh đó, việc thiếu chuyên gia tâm lý học đường sẽ khiến những “lỗ hổng rèn giũa” trở thành môi trường thuận lợi để hình thành các hành vi lệch chuẩn và thậm chí dẫn tới tội phạm ở tuổi trưởng thành.

- Từ thực tiễn nghiên cứu và kinh nghiệm trong ngành công an, Thượng tá, Tiến sĩ có thể đề xuất những giải pháp để Thông tư 19 phát huy hiệu quả mà không làm suy giảm kỷ luật học đường?

- Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu: Tôi đề xuất một cách tiếp cận đa tầng. Trước tiên, phải có hướng dẫn phân tầng vi phạm và chế tài cụ thể kèm biểu mẫu. Bên cạnh đó, cần tập huấn giáo viên về quản trị lớp và kỹ năng can thiệp hành vi; ngoài ra, nên thiết lập cơ chế báo cáo định kỳ giữa nhà trường - phụ huynh - đoàn thể để hình thành “tam giác phối hợp” giám sát học sinh.

Thêm nữa, hồ sơ hành vi học sinh phải có tính liên tục, gắn trách nhiệm khắc phục hậu quả; đồng thời kích hoạt kênh pháp luật khi vi phạm vượt ngưỡng để bảo vệ quyền lợi nạn nhân và giữ uy tín nhà trường. Cuối cùng, việc duy trì nghi lễ thầy - trò và kết hợp hoạt động thể chất - võ thuật - văn nghệ sẽ góp phần tạo nền văn hóa kỷ luật tích cực, giúp học sinh tự giác chấp hành và phát triển toàn diện.

Nếu chúng ta không rèn giũa các em hôm nay, chúng ta sẽ phải xử lý họ trong tư cách tội phạm ngày mai; còn nếu làm tốt công tác giáo dục phục hồi nhưng nghiêm khắc, chúng ta sẽ có những công dân có trách nhiệm và tôn trọng luật pháp trong tương lai.

Tóm lại, tôi cho rằng tinh thần nhân văn của Thông tư 19 chỉ thực sự phát huy khi đi kèm kỷ luật phân tầng, chế tài rõ ràng, đồng quản trị giữa nhà trường - phụ huynh - chuyên gia và nghi thức giáo dục truyền thống. Có như vậy, “nhân văn” mới không còn “trên giấy”, mà trở thành công cụ xây dựng thế hệ học sinh tự trọng, tự kỷ luật và tôn trọng pháp luật - góp phần phòng ngừa tội phạm ngay từ trong ghế nhà trường.

- Xin cảm ơn ông!

Nổi bật
      Mới nhất
      Từ mái trường đến pháp đình: Tại sao phải rèn kỷ luật trước khi quá muộn?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO