Việt Nam ở đâu trên bản đồ tài sản số toàn cầu?
Việt Nam đang nằm trong nhóm những thị trường có mức độ chấp nhận tài sản số cao trên thế giới, nhưng quy mô người dùng lớn chưa đồng nghĩa với một hệ sinh thái tài sản số trưởng thành.
Theo TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam trả lời riêng Một Thế Giới, lợi thế của Việt Nam nằm ở nhu cầu thị trường tự nhiên và khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh, trong khi thách thức lớn nhất là thể chế hóa thị trường và khả năng giữ lại giá trị kinh tế trong nước.

Chấp nhận tài sản mã hóa cao nhưng hệ sinh thái tài sản số vẫn ở giai đoạn đầu
Khi đánh giá vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài sản số thế giới, TS. Nguyễn Nhật Minh cho rằng cần nhìn vào ba yếu tố: Mức độ chấp nhận, quy mô hoạt động và mức độ trưởng thành của hệ sinh thái. Trong đó, Việt Nam đang có lợi thế rõ rệt về mức độ tiếp nhận của thị trường đối với tài sản mã hóa.
“Về mức độ chấp nhận, Việt Nam rõ ràng thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Theo Chỉ số Chấp nhận Tiền mã hóa Toàn cầu năm 2025 của Chainalysis, Việt Nam đứng thứ 4 thế giới, với khoảng 17 triệu người sở hữu tài sản mã hóa. Điều này cho thấy nhu cầu thị trường và khả năng tiếp nhận công nghệ của người Việt rất lớn”, TS. Nguyễn Nhật Minh nhận định.
Tuy nhiên, vị chuyên gia lưu ý không nên đồng nhất mức độ phổ biến của tài sản mã hóa với mức độ phát triển của toàn bộ lĩnh vực tài sản số: “Mức độ chấp nhận cao chưa đồng nghĩa với một thị trường tài sản số phát triển hoàn chỉnh. Khoảng cách lớn nhất của Việt Nam hiện nay nằm ở mức độ thể chế hóa và khả năng giữ lại giá trị kinh tế trong nước”.
Sự khác biệt này rất quan trọng khi đánh giá vị thế của Việt Nam. Tài sản mã hóa chỉ là một bộ phận của bức tranh tài sản số rộng hơn. Một hệ sinh thái tài sản số trưởng thành không chỉ có người dùng mua, nắm giữ hay giao dịch tài sản mã hóa, mà còn bao gồm doanh nghiệp công nghệ, hạ tầng thị trường, dịch vụ tài chính, hoạt động số hóa và token hóa tài sản, cơ chế huy động vốn, cũng như khả năng đưa những ứng dụng này vào nền kinh tế thực.
Theo TS. Nguyễn Nhật Minh, trong nhiều năm, thị trường tài sản số tại Việt Nam phát triển chủ yếu theo hướng từ nhu cầu thực tế của người dùng và cộng đồng đi lên.
“Người dùng, cộng đồng công nghệ, lập trình viên và doanh nhân thường là những lực lượng đi trước, trong khi khuôn khổ pháp lí và cơ chế quản lí theo sau. Điều này khác với Singapore hay UAE, nơi Nhà nước chủ động xây dựng khung quản lí và hạ tầng tài chính nhằm thu hút doanh nghiệp, vốn và nhân lực quốc tế”, ông phân tích.
Từ giai đoạn 2025-2026, khoảng cách này bắt đầu được thu hẹp. Luật Công nghiệp Công nghệ số đã chính thức đưa tài sản số vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật từ ngày 1/1/2026; đồng thời Nghị quyết 05/2025/NQ-CP thiết lập cơ chế thí điểm thị trường tài sản mã hóa trong thời gian 5 năm.
TS. Nguyễn Nhật Minh nhận xét: “Đây là bước chuyển quan trọng từ một thị trường trước đây còn thiếu ranh giới pháp lí rõ ràng sang một thị trường từng bước được đặt trong khuôn khổ quản lí chính thức”.
Dù vậy, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình hoàn thiện thể chế. Cần phân biệt rõ giữa việc Nhà nước đã xác lập phạm vi pháp lí đối với tài sản số và việc thị trường tài sản mã hóa đã đạt đến mức trưởng thành.
“Cơ chế thí điểm hiện được thiết kế khá thận trọng: Giao dịch và thanh toán phải sử dụng đồng Việt Nam; số lượng tổ chức cung cấp dịch vụ được giới hạn; yêu cầu về vốn đối với doanh nghiệp tổ chức thị trường ở mức cao và việc phát hành tài sản mã hóa trong giai đoạn thí điểm cũng chịu những điều kiện chặt chẽ”, TS. Nguyễn Nhật Minh phân tích.
Như vậy, nếu nhìn riêng vào mức độ chấp nhận tài sản mã hóa, Việt Nam đang có vị trí nổi bật. Nhưng nếu mở rộng sang năng lực xây dựng một hệ sinh thái tài sản số hoàn chỉnh, khoảng cách với các trung tâm tài chính - công nghệ lớn vẫn còn đáng kể.

Không cần thành “Singapore thứ hai”, mà phải tạo và giữ giá trị từ tài sản số
Khi so sánh với các thị trường phát triển, TS. Nguyễn Nhật Minh cho rằng Việt Nam chưa sở hữu đầy đủ những lợi thế về tài chính, vốn và thể chế như các trung tâm tài sản số hàng đầu.
“Singapore mạnh về hạ tầng tài chính và số hóa tài sản; UAE sử dụng chính sách và sự rõ ràng về pháp lí để thu hút doanh nghiệp quốc tế; Mỹ có lợi thế về thị trường vốn, công nghệ và nhà đầu tư tổ chức; còn Hong Kong đang xây dựng cầu nối giữa tài chính truyền thống và tài sản số. Việt Nam chưa có những lợi thế này ở cùng mức độ”, ông nhận định.
Tuy nhiên, Việt Nam có một lợi thế mà không phải thị trường nào cũng dễ dàng tạo dựng: Nhu cầu đối với công nghệ và các mô hình tài sản số đã hình thành tương đối tự nhiên từ thị trường.
“Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là nhu cầu số hình thành rất tự nhiên từ thị trường: Dân số trẻ, khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh, cộng đồng kỹ sư và doanh nhân công nghệ năng động, cùng một thị trường đủ lớn để thử nghiệm các mô hình mới”, TS. Nguyễn Nhật Minh nhận định.
Đây có thể là nền tảng để Việt Nam lựa chọn một hướng đi riêng thay vì cố gắng sao chép mô hình của những trung tâm tài chính quốc tế. “Vì vậy, Việt Nam không nhất thiết phải trở thành một ‘Singapore thứ hai’ hay ‘Dubai thứ hai’. Cơ hội phù hợp hơn là trở thành trung tâm ứng dụng tài sản số, tập trung giải quyết những bài toán thực của nền kinh tế như thanh toán xuyên biên giới, thương mại, truy xuất nguồn gốc, số hóa tài sản thực và huy động vốn”, ông đề xuất.
Cách tiếp cận này cũng cho thấy sự khác biệt giữa việc phát triển một thị trường tài sản mã hóa và xây dựng một nền kinh tế tài sản số. Nếu tài sản mã hóa chủ yếu phản ánh nhu cầu giao dịch, đầu tư và sở hữu các loại tài sản được mã hóa, thì hệ sinh thái tài sản số rộng hơn nhiều, với mục tiêu đưa công nghệ vào các hoạt động kinh tế cụ thể.
Trong đó, số hóa tài sản thực và token hóa tài sản có thể mở ra những hướng đi đáng chú ý nếu được đặt trong khuôn khổ pháp lí phù hợp. Tương tự, thanh toán xuyên biên giới, thương mại, truy xuất nguồn gốc hay huy động vốn có thể trở thành những lĩnh vực mà tài sản số tạo ra giá trị trực tiếp cho nền kinh tế thay vì chỉ tạo ra hoạt động giao dịch trên thị trường. Do đó, theo TS. Nguyễn Nhật Minh, thước đo quan trọng trong giai đoạn tiếp theo cũng cần thay đổi.
“Cuộc đua tiếp theo không nên chỉ là có bao nhiêu người Việt Nam sở hữu tài sản mã hóa, mà quan trọng hơn là bao nhiêu giá trị từ nền kinh tế tài sản số được tạo ra và giữ lại tại Việt Nam”, ông nhấn mạnh.
Đây là điểm then chốt đối với Việt Nam. Một thị trường có hàng triệu người sử dụng tài sản mã hóa nhưng phần lớn nền tảng công nghệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, dòng vốn và giá trị gia tăng nằm ngoài Việt Nam sẽ khó tạo ra tác động tương xứng đối với nền kinh tế trong nước.
Ngược lại, nếu Việt Nam có thể tận dụng cộng đồng công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và quy mô thị trường để hình thành các sản phẩm, dịch vụ và hạ tầng tài sản số có sức cạnh tranh, giá trị tạo ra sẽ không dừng ở hoạt động mua bán tài sản mã hóa.
Khi đó, lợi thế về mức độ chấp nhận có thể trở thành điểm xuất phát cho một hệ sinh thái rộng hơn, trong đó tài sản số được sử dụng để giải quyết các bài toán của nền kinh tế thực. “Nếu chuyển được từ mức độ chấp nhận cao sang khả năng tạo ra giá trị cao, đó mới là bước tiến thực sự của Việt Nam trên bản đồ tài sản số toàn cầu”, TS. Nguyễn Nhật Minh kết luận.
.jpg)
