Thời sự

VIFC-DN: Bài kiểm tra năng lực thiết kế thể chế của Việt Nam

Lê Đình Dũng 30/06/2026 17:36

Đối với Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN), PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng thách thức lớn nhất vẫn là thiết kế thể chế. Chỉ khi có một cơ chế đủ mới, đủ linh hoạt và khác biệt thì mới có thể giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo ra năng lực cạnh tranh.

VIFC-DN và 5 "trụ cột" sản phẩm chiến lược

Ngày 30/6, tại Đà Nẵng, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) tổ chức hội thảo "VIFC-DN: Kiến tạo thể chế – Định hình dòng vốn thế hệ mới".

Hội thảo tập trung thảo luận những vấn đề then chốt trong quá trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng, từ thiết kế thể chế, phát triển các sản phẩm tài chính đặc thù đến xây dựng hệ sinh thái fintech, blockchain, tài sản số, quản lí gia sản, tài chính thương mại, tín chỉ carbon và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

2aoboqh4nzxqzqhsfhrmnw3edc6nc866nl83y5y4.jpg
Hội thảo ghi nhận nhiều ý kiến, tham luận đóng góp của các chuyên gia, diễn giả.

Để định vị mình trên bản đồ tài chính khu vực, ông Kevin Bruce Iwanaga - Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành VIFC-DN - đã phác họa lộ trình phát triển thông qua 5 sản phẩm tài chính chủ lực. Đây không phải là các sáng kiến riêng lẻ mà là 5 trụ cột bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một hệ sinh thái huy động vốn hiện đại.

Các sản phẩm này bao gồm: Token hóa tài sản thực; tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon; sàn giao dịch hàng hóa; quỹ đầu tư và quản lí tài sản; thị trường trái phiếu.

Theo đại diện VIFC-DN, mỗi sản phẩm sẽ đảm nhận một vai trò riêng trong nền kinh tế. Chẳng hạn như token hóa tài sản có thể giải phóng thanh khoản từ các tài sản thực và các dự án hạ tầng, qua đó giúp quá trình huy động vốn trở nên hiệu quả hơn và dễ tiếp cận hơn đối với nhà đầu tư.

Trong khi đó, tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể chuyển hóa vốn tự nhiên của Việt Nam, quá trình chuyển dịch sang năng lượng tái tạo và các dự án khí hậu có tính toàn vẹn cao thành những tài sản đầu tư hấp dẫn, kết nối trực tiếp với nhu cầu của thị trường toàn cầu.

Sàn giao dịch hàng hóa có thể góp phần nâng cao tính minh bạch về giá, hỗ trợ tài trợ thương mại, tăng cường quản trị rủi ro và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

Lĩnh vực quỹ đầu tư và quản lí tài sản có thể thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư, tổ chức, đồng thời hình thành các phương tiện đầu tư được quản lí chuyên nghiệp, góp phần phát triển chiều sâu của thị trường vốn Việt Nam.

Thị trường trái phiếu có thể cung cấp nguồn vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng, các dự án đầu tư công và sự tăng trưởng của doanh nghiệp.

2aoboqh4o23r2g4hysfl85rggyhaqgzi2tfgbbf6.jpg
Ông Kevin Bruce Iwanaga - Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành VIFC-DN.

Tuy nhiên theo ông Kevin, để tạo dựng niềm tin với nhà đầu tư quốc tế, yếu tố cốt lõi không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở hành lang pháp lí. Ông cho rằng cả 5 sản phẩm chiến lược đều cần được bảo đảm bằng một Đạo luật Ủy thác (Trust Act), cùng với tính chắc chắn về pháp lí, minh bạch trong quản trị và sự toàn vẹn của thị trường.

Bà Huỳnh Liên Phương - Phó chánh văn phòng UBND TP. Đà Nẵng, Chánh văn phòng Cơ quan điều hành VIFC-DN - cho biết, hiện đã có 12 thành viên được cấp phép, 11 thành viên được cấp chứng nhận ghi nhận sự quan tâm và thêm 12 hồ sơ đang trong quá trình xem xét.

Theo bà, số lượng nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm tới VIFC-DN hiện rất lớn, cho thấy kỳ vọng đáng kể dành cho mô hình này. Tuy nhiên, lý do khiến các thành viên được cấp phép vẫn chưa thể hoạt động nằm ở điểm nghẽn lớn nhất là khung pháp lí.

Theo bà Phương, về mặt lý thuyết, Việt Nam đã có nền tảng pháp lí ban đầu, nhưng khi đưa vào thực tế vẫn còn nhiều khoảng trống và vướng mắc, đặc biệt với Đà Nẵng - nơi được định vị là “phòng thí nghiệm” cho các sản phẩm tài chính mới.

Những điểm nghẽn và bài học từ các trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - cho rằng việc xây dựng VIFC là cơ hội để Việt Nam bước vào một "cuộc chơi khác thường" nơi cạnh tranh không còn dựa trên những lợi thế truyền thống mà bằng thể chế, năng lực đổi mới và sự khác biệt.

2aoboqh4zdkv0rebr1xgwi9c3qpdfxgctn4abxj6.jpg
PGS.TS Trần Đình Thiên.

Theo ông, Việt Nam hoàn toàn có đủ "độ lớn" để tham gia sân chơi này. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải dám lựa chọn một cách tiếp cận mới. Nếu vẫn đi theo quỹ đạo cũ, tiếp tục vận hành bằng những lợi ích và tư duy cũ thì nguy cơ bỏ lỡ cơ hội là rất lớn.

"Điều chúng ta cần không phải là thêm một vài cơ chế ưu đãi hay những chính sách xin - cho. Cái cần là thay đổi chính chân dung phát triển của mình để có thể bay lên", ông nói.

Đối với Đà Nẵng, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng thách thức lớn nhất vẫn là thiết kế thể chế. Thành phố cần được trao quyền chủ động nhiều hơn trong tổ chức và vận hành VIFC. Chỉ khi có một cơ chế đủ mới, đủ linh hoạt và khác biệt thì mới có thể giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo ra năng lực cạnh tranh thực sự.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông cho biết Singapore luôn coi thể chế là lĩnh vực phải liên tục thử nghiệm và đổi mới. Israel cũng không ngừng sáng tạo trong chính sách để thúc đẩy đổi mới. Thượng Hải thành công nhờ xây dựng khu thương mại tự do với những cơ chế đặc biệt, qua đó thu hút dòng vốn và hình thành hệ sinh thái logistics đồng bộ.

Hồng Kông tạo dựng được vị thế trung tâm tài chính quốc tế nhờ niềm tin pháp lí. Nhà đầu tư tin tưởng vì biết các giao dịch được bảo vệ bằng luật pháp minh bạch, cơ chế trọng tài quốc tế độc lập và những chuẩn mực vận hành rõ ràng.

"Điều hấp dẫn nhà đầu tư không chỉ là ưu đãi, mà chính là niềm tin vào thể chế", ông nói và cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thiết kế một mô hình phù hợp với điều kiện của mình, thay vì cố gắng sao chép nguyên mẫu của bất kỳ quốc gia nào.

Cũng theo PGS.TS Trần Đình Thiên, nếu VIFC được triển khai tại cả Đà Nẵng và TP. HCM thì nên nghiên cứu theo hướng hai trung tâm có định vị độc lập, bổ trợ lẫn nhau thay vì cạnh tranh trực tiếp. Mỗi trung tâm cần có sản phẩm riêng, lợi thế riêng và cơ chế vận hành riêng.

Với Đà Nẵng, thành phố có thể tiên phong ở những lĩnh vực mới như tài chính xanh hay các sản phẩm tài chính thế hệ mới.

2aoboqh57ipl4ybymgbjzxsjdyfnqp8nkmrwiqm4.jpg
TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh.

Về phần mình, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, trung tâm tài chính là một sandbox lớn của quốc gia, nên hiện nay trên thế giới có ba cách tiếp cận. Cách tiếp cận thứ nhất là tiên phong, đi đầu như Singapore. Cách tiếp cận thứ hai được đa số các nước lựa chọn là cẩn trọng hơn một chút, tức là vừa làm vừa nghe ngóng. Cách tiếp cận thứ ba là kiểu rụt rè nhất, tức là chờ cho họ làm xong hết rồi, xem thế nào mới học hỏi theo.

“Đó là lý do vì sao sandbox trong các lĩnh vực fintech của chúng ta lại chậm đến như vậy. Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam chưa dám nói là sẽ tiên phong như Singapore nhưng chắc chắn chúng ta phải cố gắng ít nhất là ở mức giữa, tức cách tiếp cận thứ hai”, ông Thành kiến nghị.

Chia sẻ từ góc nhìn thực tiễn, PGS.TS Trần Mạnh Huy - Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - cho rằng: Điều đáng chú ý là các nhà đầu tư đều tỏ ra hào hứng khi nghe về mô hình VIFC-DN, nhưng phần lớn sau đó lại rời đi vì chưa thể triển khai.

“Họ không sợ thắng hay thua trên thị trường. Điều họ sợ nhất là thể chế không rõ ràng. Rủi ro thị trường thì họ chấp nhận, nhưng rủi ro chính sách thì họ không chịu”, ông Huy nói.

Theo vị chuyên gia, nỗi lo lớn nhất của nhà đầu tư là khả năng “đang làm giữa chừng thì luật thay đổi”, khiến toàn bộ kế hoạch đầu tư bị đảo lộn. Đây là nguyên nhân khiến nhiều dòng vốn quan tâm đến rồi lại rút lui.

Thể chế là "chìa khóa" mở cửa dòng vốn

TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) - khẳng định bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu rất cao. Chính phủ đã xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên cho giai đoạn 2026–2030. Riêng với Đà Nẵng, áp lực và cơ hội cũng song hành khi thành phố phải phấn đấu đạt mức tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên ngay trong năm 2026.

“Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các trung tâm tài chính lớn như Singapore, Dubai hay Luxembourg không được tạo ra chỉ bằng vị trí địa lí hay nguồn vốn dồi dào. Tất cả đều có một điểm chung: Thể chế đi trước, dòng vốn đi sau”, TS. Lê Minh Nghĩa nhấn mạnh.

Thể chế ở đây, theo ông, không chỉ là hệ thống pháp luật mà là sự minh bạch trong quản trị, cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy và một môi trường pháp lí đủ linh hoạt để đón nhận các mô hình kinh doanh mới như tài chính số, tài sản mã hóa và tài chính xanh.

2aoboqh4o084idnlpwc6x2tshd6hnqxiag7du360.jpg
TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương - phát biểu tại hội thảo.

TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, cũng đồng tình với quan điểm này khi nhìn vào bài toán huy động vốn của nền kinh tế. Theo tính toán, tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, trong đó nhu cầu huy động từ thị trường vốn và các kênh phi ngân hàng lên tới 20,4 triệu tỉ đồng.

"Nếu không tạo ra những cơ chế đủ đột phá, chúng ta sẽ rất khó thu hút được dòng vốn quốc tế cũng như phát huy vai trò của Trung tâm Tài chính quốc tế trong giai đoạn mới", TS. Hiển khẳng định.

Ông Trần Chí Cường - Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng – cho biết, dù khung pháp lí cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đã được định hình tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội và các nghị định hướng dẫn của Chính phủ nhưng vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục được lấp đầy.

2aoboqh4o0ikmrlnt5qjec3gkoiuaverthuhlhwk.jpg
Ông Trần Chí Cường - Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng.

“Thành phố Đà Nẵng luôn sẵn sàng lắng nghe những ý kiến phản biện từ các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp để góp phần hoàn thiện thể chế, từng bước hình thành một hệ sinh thái tài chính hiện đại, năng động, biến Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng thực sự trở thành cánh cổng dẫn dắt dòng vốn quốc tế chảy vào Việt Nam phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số và những chiến lược dài hạn hơn”, ông Trần Chí Cường khẳng định.

Nổi bật
      Mới nhất
      VIFC-DN: Bài kiểm tra năng lực thiết kế thể chế của Việt Nam
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO