AI trong chăn nuôi: Camera AI ‘gác cổng’, thẻ điện tử gắn trên vật nuôi, dữ liệu ghi ngay tại chuồng
AI trong chăn nuôi đang được kỳ vọng giúp giảm chi phí, tăng năng suất, trong khi giá lợn hơi có thời điểm chỉ khoảng 45.000 đồng/kg, thấp hơn giá thành tới 10.000 đồng.
Giá bán thấp hơn giá thành 10.000 đồng mỗi ký
Phát biểu tại hội thảo “Hành trình chuyển đổi sang chăn nuôi dựa trên dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)”, ông Nguyễn Chí Công, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Đồng Nai, kể có lúc giá lợn hơi tụt xuống khoảng 45.000 đồng/kg, trong khi giá thành có thể lên tới 55.000 đồng/kg. Cải thiện quy trình đến đâu, người nuôi vẫn có thể lỗ.

Theo ông, AI trong chăn nuôi chỉ đáng đầu tư nếu giúp giảm chi phí, nâng chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường. Một doanh nghiệp tối ưu được khâu nội bộ của mình mà các bất cập chung vẫn nguyên thì ngành không được lợi bao nhiêu.
Sức ép lên chăn nuôi còn đến từ chi phí đầu vào, dịch bệnh, yêu cầu an toàn sinh học và bảo vệ môi trường. Trong khi đó, công tác quản lý ở nhiều cơ sở còn phân tán, dữ liệu giữa các khâu sản xuất chưa được kết nối đồng bộ.
TS. Bùi Huy Doanh, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng chăn nuôi thông minh không phải chuyện mua thêm thiết bị. Điều cần trước tiên là hệ thống dữ liệu liên thông, đi xuyên suốt từ con giống, thức ăn, vật tư thú y đến khâu tiêu thụ.
Đây là nền tảng để chuyển từ quản lý bằng kinh nghiệm sang điều hành bằng dữ liệu. Thông tin được cập nhật thường xuyên giúp người nuôi theo dõi sát sản xuất, kiểm soát đầu vào, kiểm soát dịch bệnh và điều chỉnh quy trình chăm sóc kịp thời. Theo ông Doanh, mục tiêu của chuyển đổi số không phải đầu tư ồ ạt hay mua thiết bị đắt tiền, mà là nâng hiệu quả thực chất. Mỗi giải pháp cần được kiểm chứng về kỹ thuật và kinh tế trước khi nhân rộng.
AI trong chăn nuôi: Từ thẻ điện tử trên vật nuôi đến camera kiểm soát người ra vào trại
Bà Lê Thị Hải Yến, Phó Tổng Giám đốc Khối Công nghệ thông tin - Công nghệ số của GREENFEED, cho biết công ty số hóa trang trại trước rồi mới đưa AI vào. Từ năm 2026, GREENFEED dùng AI phân tích dữ liệu, thí điểm ở một trang trại, đánh giá xong mới tính chuyện mở rộng.

AI trong chăn nuôi được dùng để phân tích các chỉ tiêu năng suất, chỉ ra khâu chưa đạt để quản lý tìm nguyên nhân. Kết hợp với camera, AI còn giám sát việc tuân thủ quy trình an toàn sinh học, kiểm tra người và phương tiện ra vào trại. Các giải pháp vẫn đang thử nghiệm. Hiệu quả sẽ được đo bằng thời gian làm việc, nhân lực, năng suất và chi phí vận hành.
Ở những trang trại đã số hóa toàn diện, nhân viên ghi nhận thông tin ngay tại chuồng bằng thiết bị di động, kết hợp thẻ định danh điện tử gắn trên vật nuôi. Dữ liệu được cập nhật kịp thời, chính xác hơn, người quản lý ra quyết định dựa trên thông tin thực tế thay vì cảm tính. Việc ghi chép, tổng hợp và lưu trữ cũng ít sai sót hơn.
Khâu môi trường chuồng nuôi cũng được tự động hóa. Cảm biến theo dõi vi khí hậu, kết nối với quạt thông gió và hệ thống làm mát. Khi thông số vượt ngưỡng, hệ thống tự điều chỉnh hoặc phát cảnh báo để nhân viên xử lý. Nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí tác động trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh trưởng của vật nuôi. Kiểm soát tốt các yếu tố này giúp hạn chế stress, suy giảm sức đề kháng và thất thoát năng suất.
Với trang trại quy mô lớn, kiểm soát thủ công người, xe và vật tư ra vào là việc rất khó. Camera tích hợp AI giúp phát hiện trường hợp không tuân thủ quy trình, hạn chế nguy cơ dịch bệnh lây từ bên ngoài vào khu nuôi tập trung.
AI còn phân tích được khối lượng dữ liệu lớn, nhận ra những biến động và mối liên hệ mà cách quản lý thông thường khó thấy. Gắn với cảm biến và phần mềm quản trị, công nghệ này hỗ trợ dự báo và điều chỉnh điều kiện nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng. Dữ liệu được tích hợp cũng cho chủ trại cái nhìn tổng thể về hiệu quả sử dụng thức ăn, chi phí và những khâu còn bất hợp lý. Hồ sơ chăm sóc, sử dụng thuốc thú y là cơ sở để kiểm soát chất lượng và minh bạch nguồn gốc sản phẩm.

Ở Tổng công ty Nông nghiệp Hòa Phát, bà Nguyễn Thị Thanh Vân, Phó Chủ tịch, cho biết nhiều quy trình đã được số hóa, từ mua bán, vật tư đến theo dõi sản xuất, cùng với tự động hóa trong chăn nuôi. Bước tiếp theo là nghiên cứu dùng AI để phân tích và dự báo số liệu.
Theo bà Vân, AI phát hiện được chỉ tiêu bất thường và đưa ra cảnh báo. Còn nguyên nhân thì phải có người chuyên môn xuống kiểm tra dữ liệu, quy trình và điều kiện thực tế tại trang trại. Công nghệ không thể thay hoàn toàn kinh nghiệm và năng lực quản trị.
Mỗi doanh nghiệp một hệ thống, hộ nhỏ nên bắt đầu từ việc đơn giản
Ông Dương Tất Thắng, Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng ngành đang cần gấp dữ liệu tổng hợp để dự báo quy mô đàn và nhu cầu thị trường. Chỉ có số liệu của từng trang trại thì cơ quan quản lý khó biết cung cầu ra sao. Có thông tin cập nhật trên diện rộng mới xác định được khu vực nào cần điều chỉnh quy mô đàn, tránh tăng đàn thiếu kiểm soát gây dư cung và biến động giá.

Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, cho biết ngành đang cung vượt cầu. Doanh nghiệp không chia sẻ thông tin, các địa phương không phối hợp thì khó xử lý biến động thị trường. Mỗi doanh nghiệp có thể đã có hệ thống quản lý và bộ dữ liệu riêng, nhưng khi các hệ thống không kết nối được với nhau, dữ liệu chưa tạo ra giá trị chung. Ông đề xuất một chương trình tổng thể có cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và người nuôi cùng tham gia, quy định rõ chia sẻ thông tin thế nào và phối hợp hành động ra sao.
Muốn chia sẻ được, dữ liệu phải chuẩn hóa trước. AI chỉ cảnh báo đúng khi thông tin đầu vào đầy đủ, chính xác và liên tục, nên đây được xem là yêu cầu hàng đầu. Cơ sở chăn nuôi lại rất khác nhau về quy mô, loài vật nuôi, phương thức sản xuất và năng lực tài chính. Giải pháp cho trang trại công nghiệp lớn không thể bê nguyên sang cơ sở vừa và nhỏ.
Với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, theo TS. Bùi Huy Doanh, vướng mắc không chỉ là tiền đầu tư mà còn là nhân lực, thói quen ghi chép và khả năng dùng công nghệ. Ông lưu ý dữ liệu không nên chỉ nằm ở doanh nghiệp lớn, hộ nuôi vừa và nhỏ cũng phải có chỗ tham gia. Ông đề xuất bắt đầu từ việc đơn giản, thấy lợi ích ngay, chẳng hạn xác định thời điểm xuất chuồng phù hợp. Khi thấy dữ liệu giúp kết quả tốt hơn, người nuôi mới có động lực làm tiếp.

Ông Đặng Thạch Quân, Tổng Giám đốc Excel Technologies, nhắc tới một rủi ro dễ bị bỏ qua là mất điện. Nếu hệ thống thông gió và thiết bị thiết yếu ngừng chạy, hậu quả tại trang trại có thể rất nghiêm trọng. Theo ông, đầu tư công nghệ phải đi kèm cảnh báo sự cố, nguồn điện dự phòng và phương án xử lý tại chỗ, chứ không thể chỉ trông vào thông báo trên điện thoại.
Việc đầu tư nên có lộ trình, ưu tiên những khâu dễ phát sinh chi phí lớn hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và an toàn dịch bệnh. Nhân lực cũng quyết định hiệu quả. Người lao động không chỉ cần kiến thức chăn nuôi, thú y mà còn phải biết dùng thiết bị thông minh, cập nhật dữ liệu và xử lý cảnh báo. Đội ngũ quản lý cần đủ năng lực phân tích để biến dữ liệu thành quyết định điều hành.
Thước đo của chuyển đổi số, vì vậy, nên là kết quả sản xuất cụ thể: chi phí giảm bao nhiêu, năng suất cải thiện ra sao, dịch bệnh có được hạn chế, thức ăn và vật tư có được dùng hiệu quả hơn, chất lượng sản phẩm có tốt lên. Số thiết bị đã mua không nói lên điều đó. Để làm được, cần cơ quan quản lý, viện, trường và doanh nghiệp cùng phối hợp. Cơ sở khoa học nghiên cứu, kiểm chứng giải pháp. Doanh nghiệp công nghệ phát triển nền tảng, thiết bị. Doanh nghiệp chăn nuôi triển khai và đánh giá hiệu quả trong thực tế.
Ông Dương Tất Thắng cho rằng chuyển đổi số và AI phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, còn cơ quan quản lý cần hoàn thiện cơ chế kết nối dữ liệu, xây tiêu chuẩn và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân tiếp cận công nghệ. Hệ thống dữ liệu kết nối cũng là cơ sở để truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.



