Nhịp đập công nghệ

Bệnh thận mạn: ‘Điểm mù’ chết người nhiều người đang bỏ qua

Hồ Quang 25/07/2026 12:13

Bệnh thận mạn có thể âm thầm tiến triển mà không có triệu chứng rõ ràng, làm tăng nguy cơ tim mạch và chuyển hóa.

Bệnh thận mạn có thể âm thầm tiến triển trong nhiều năm mà không gây ra triệu chứng rõ rệt, đồng thời làm gia tăng nguy cơ tim mạch và các rối loạn chuyển hóa. Các chuyên gia cảnh báo, nếu chờ đến khi cơ thể xuất hiện dấu hiệu bất thường mới kiểm tra chức năng thận, người bệnh có thể bỏ lỡ “thời điểm vàng” để can thiệp.

Điểm mù” bệnh thận có thể bắt đầu từ những bất thường rất nhỏ

Trong suy nghĩ của nhiều người, bệnh thận thường chỉ được quan tâm khi xuất hiện những biểu hiện như phù, tiểu ít, mệt mỏi hoặc phải điều trị thay thế thận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy bệnh thận mạn có thể diễn tiến âm thầm trong thời gian dài, trong khi người bệnh vẫn sinh hoạt và làm việc gần như bình thường.

benh-than-man-diem-mu-chet-nguoi-nhieu-nguoi-dang-bo-qua-hinh-anh.png
Bệnh thận mạn có thể âm thầm tiến triển mà không có triệu chứng rõ ràng, làm tăng nguy cơ tim mạch và chuyển hóa. Ảnh: minh họa

Đây chính là một trong những “điểm mù” đáng lo ngại nhất. Khi các triệu chứng rõ ràng xuất hiện, chức năng thận có thể đã suy giảm đáng kể và cơ hội can thiệp ở giai đoạn sớm có thể đã bị bỏ lỡ.

TS.BS Huỳnh Ngọc Phương Thảo, Trưởng Khoa Nội thận - Lọc máu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, cho rằng thách thức lớn trong quản lí bệnh thận mạn là nhận diện bệnh từ khi người bệnh chưa có triệu chứng rõ ràng. Theo hướng tiếp cận chuyên môn này, việc đánh giá sức khỏe thận không nên chỉ được thực hiện khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường mà cần được đặt trong tổng thể nguy cơ của từng người, đặc biệt ở những trường hợp có bệnh lí chuyển hóa hoặc tim mạch đi kèm.

Một trong những lí do khiến bệnh thận mạn dễ bị bỏ sót là người bệnh có thể không cảm nhận được sự suy giảm chức năng thận trong giai đoạn đầu. Nhiều trường hợp chỉ phát hiện bệnh thông qua xét nghiệm máu hoặc nước tiểu được thực hiện vì một lí do khác.

“Không phải tất cả người bệnh mắc bệnh thận mạn đều có tình trạng albumin niệu tăng rõ rệt. Một số người có tỉ số albumin/creatinin nước tiểu (UACR) dưới ngưỡng 30 mg/g nhưng vẫn có thể đồng thời suy giảm mức lọc cầu thận ước tính (eGFR). Điều này cho thấy nếu chỉ dựa vào triệu chứng hoặc một chỉ số xét nghiệm đơn lẻ, nguy cơ bệnh thận có thể bị bỏ sót”, bác sĩ Thảo nói.

Theo TS.BS Huỳnh Ngọc Phương Thảo, đây cũng là lí do việc đánh giá chức năng thận cần được nhìn nhận một cách toàn diện. Với những người có nguy cơ, việc kiểm tra định kì và theo dõi diễn biến các chỉ số chức năng thận có thể giúp bác sĩ nhận diện sớm những thay đổi bất thường, từ đó xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp trước khi tổn thương tiến triển nặng.

Vì sao thận chưa “kêu cứu”, trái tim đã gặp nguy?

Điều đáng lo không chỉ nằm ở nguy cơ suy giảm chức năng thận. Trong hội chứng tim mạch - thận - chuyển hóa, các bệnh lý như béo phì, đái tháo đường típ 2, tăng huyết áp, bệnh thận mạn và bệnh tim mạch có thể tác động qua lại, tạo thành một vòng xoáy bệnh lí phức tạp.

Đặc biệt, sự kết hợp giữa bệnh thận mạn và đái tháo đường típ 2 được xem là yếu tố làm gia tăng đáng kể gánh nặng tim mạch. Người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ cao hơn đối với các biến cố như nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ và các bệnh lí mạch máu.

Khi chức năng thận suy giảm, những thay đổi về chuyển hóa, tình trạng viêm mạn tính, rối loạn điện giải và sự tích tụ các chất độc trong cơ thể có thể tiếp tục tạo thêm áp lực lên hệ tim mạch.

TS.BS Huỳnh Ngọc Phương Thảo nhấn mạnh, việc quản lý bệnh thận mạn vì thế không thể tách rời việc kiểm soát các nguy cơ tim mạch và chuyển hóa. Mục tiêu không chỉ là làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận mà còn phải chủ động giảm nguy cơ biến cố tim mạch trong suốt quá trình theo dõi người bệnh.

Đừng chờ đến khi thận suy mới bắt đầu kiểm tra

Một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận hiện nay là chuyển từ mô hình phát hiện bệnh muộn sang chủ động tầm soát và phân tầng nguy cơ. Thay vì chờ người bệnh xuất hiện triệu chứng hoặc suy thận tiến triển, các yếu tố nguy cơ cần được nhận diện từ sớm để có kế hoạch theo dõi phù hợp.

Hai chỉ số thường được quan tâm trong đánh giá bệnh thận mạn là eGFR) và UACR. Trong đó, eGFR được tính toán từ xét nghiệm creatinine máu nhằm đánh giá khả năng lọc của thận, còn UACR giúp phát hiện albumin trong nước tiểu - một dấu hiệu có thể phản ánh tổn thương ở cầu thận. Việc kết hợp hai thông tin này giúp bác sĩ có thêm cơ sở để đánh giá nguy cơ và theo dõi diễn biến bệnh.

Với những người đã có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc thuộc nhóm hội chứng tim mạch - thận - chuyển hóa (CKM) từ giai đoạn 2 trở lên, việc đánh giá eGFR và UACR định kì có vai trò quan trọng trong phát hiện sớm bệnh thận.

Khi bệnh được phát hiện sớm, người bệnh có thêm cơ hội kiểm soát các yếu tố nguy cơ và làm chậm tiến triển của bệnh. Y học hiện đại cũng đang chuyển dần sang các chiến lược điều trị có khả năng tác động đồng thời lên nhiều mắt xích của hội chứng tim mạch - thận - chuyển hóa.

Bệnh thận mạn có thể không “kêu cứu” bằng những triệu chứng rõ ràng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc cơ thể không gặp nguy hiểm. Khi thận, tim và chuyển hóa được nhìn nhận như một hệ thống liên kết, việc phát hiện sớm và chủ động quản lý các yếu tố nguy cơ trở thành chìa khóa để ngăn bệnh tiến triển.

Với những người có yếu tố nguy cơ, chủ động kiểm tra chức năng thận và trao đổi với bác sĩ có thể là bước quan trọng để không bỏ lỡ “thời điểm vàng”, qua đó bảo vệ cả thận lẫn trái tim.

Nổi bật
      Mới nhất
      Bệnh thận mạn: ‘Điểm mù’ chết người nhiều người đang bỏ qua
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO