Charles Darwin Kì 4: Cuộc tranh luận nảy lửa với giáo hội Anh
Khi cuốn Nguồn gốc muôn loài của Charles Darwin lan truyền khắp nước Anh vào cuối năm 1859, một làn sóng phẫn nộ từ giới tinh hoa học thuật và giáo hội bảo thủ dâng cao chưa từng thấy.

Thay vì đứng ra bảo vệ công trình tâm huyết của mình giữa các diễn đàn đầy lửa, Charles Darwin chọn cách lùi lại phía sau. Ẩn mình trong căn nhà yên tĩnh tại vùng nông thôn Kent, ông biến thành một chiến lược gia chỉ huy trận đánh qua những bức thư tay. Bằng cách nhường lại chiến trường cho những người bạn dũng cảm và sắc sảo, Darwin tránh được những thương tổn trực diện. Sự rút lui đầy toan tính này mở đường cho một quá trình nhào nặn kì lạ trong nền văn minh công nghiệp Anh. Nó biến một nhà tự nhiên học mang nhiều nỗi đau thể xác thành một biểu tượng huyền thoại bất tử. Trận chiến ý tưởng ấy thay đổi hoàn toàn cách nhân loại nhìn nhận về sự sống, khởi đầu từ một buổi chiều mùa hè rực lửa tại Oxford.
Chó béc-giê của Darwin và cuộc đụng độ tại Oxford
Vào ngày 30 tháng 6 năm 1860, tức một ngày thứ bảy, Bảo tàng Đại học Oxford chật cứng người. Hàng trăm học giả, sinh viên, các quý bà mặc váy phồng và những nhân vật quyền lực nhất của Giáo hội Anh đã đổ về khán phòng lớn. Thời tiết oi bức của mùa hè khiến không khí bên trong trở nên ngột ngạt, nhưng điều thực sự làm đám đông đổ mồ hôi chính là sự căng thẳng trước một cuộc đối đầu tư tưởng gay gắt. Họ đến để chứng kiến một phiên tòa xét xử không chính thức đối với Thuyết Tiến hóa.
Giữa thời điểm quyết định đó, người tạo ra học thuyết là Charles Darwin lại vắng mặt. Ở cách Oxford hàng trăm km, nhà tự nhiên học đang nằm bẹp trên giường bệnh tại một cơ sở thủy trị liệu ở Richmond. Căn bệnh dạ dày mãn tính, những cơn nôn mửa và sự suy nhược thần kinh khiến ông không thể bước ra khỏi cửa. Darwin thấu hiểu bản tính nhút nhát và sự yếu đuối về mặt thể chất của mình. Ông biết mình sẽ nhanh chóng gục ngã hoặc rơi vào trạng thái hoảng loạn nếu phải đứng trước đám đông thù địch. Do đó, ông đặt trọn niềm tin vào nhóm "quân cận vệ" trung thành, những người mang trong mình ngọn lửa nhiệt huyết và kĩ năng hùng biện xuất chúng, dẫn đầu là nhà sinh học trẻ tuổi Thomas Henry Huxley.

Huxley xuất thân từ tầng lớp trung lưu, phải tự học và chiến đấu vất vả để giành lấy vị trí trong giới khoa học. Tính cách thẳng thắn, tư duy logic nhạy bén và khả năng ngôn ngữ linh hoạt khiến Huxley tự xưng là "chó béc-giê của Darwin", là người sẵn sàng cắn xé bất kì ai dám tấn công học thuyết tiến hóa bằng những lập luận phi khoa học.
Đối thủ lớn nhất của nhóm Huxley trong ngày hôm ấy là Giám mục giáo phận Oxford, Samuel Wilberforce. Sở hữu biệt danh "Sam trơn tuột" nhờ tài ăn nói uyển chuyển, Wilberforce là một diễn giả xuất chúng, mang trong mình sứ mệnh đập tan những tư tưởng dị giáo để bảo vệ sự thiêng liêng của Kinh Thánh. Có giai thoại khi được hỏi tại sao lại bị gọi là "Sam trơn tuột", Wilberforce đã khôn khéo đáp lại rằng: "Bởi vì dù tôi có thường xuyên bị đẩy vào nước sôi (ám chỉ các cuộc tranh luận nảy lửa), tôi vẫn luôn bước ra với một đôi tay sạch sẽ".
Được nhà giải phẫu học lỗi lạc Richard Owen mớm lời từ trước, Wilberforce bước lên bục phát biểu với sự tự tin tuyệt đối. Suốt nửa giờ đồng hồ, vị giám mục dùng những lời lẽ hoa mỹ để giễu cợt lí thuyết chọn lọc tự nhiên, cho rằng nó vi phạm ý định của Đấng Tạo Hóa và chà đạp lên phẩm giá con người.
Đỉnh điểm của màn diễn thuyết đến khi Wilberforce quay sang nhìn thẳng vào Thomas Huxley đang ngồi trên bục. Với một nụ cười mỉa mai, vị giám mục cất tiếng hỏi kháy: "Tôi xin hỏi Giáo sư Huxley, ông nhận mình có gốc gác từ khỉ thông qua dòng họ bên nội hay bên ngoại của ông?".
Cả khán phòng ồ lên thích thú trước lời xúc phạm cá nhân đầy thâm độc ấy. Những tràng cười vang lên. Wilberforce đắc thắng, nhưng ông đã phạm một sai lầm chết người vì ông đưa một vấn đề khoa học xuống ngang tầm một trò đùa rẻ tiền.
Ngồi trên ghế, Huxley quay sang nói nhỏ với người đồng nghiệp bên cạnh: "Chúa đã giao hắn vào tay tôi". Từ tốn đứng dậy, Huxley bước ra giữa ánh sáng. Ông bắt đầu bài phản biện bằng cách dùng những dẫn chứng giải phẫu học vững chắc để bảo vệ sự tương đồng giữa não người và não linh trưởng. Sau đó, bằng một giọng trầm và rõ ràng, ông tung ra đòn phản công làm chấn động toàn bộ khán phòng.
Huxley tuyên bố rằng ông không hề cảm thấy xấu hổ khi có một con khỉ làm tổ tiên. Điều khiến ông cảm thấy xấu hổ thực sự là việc phải có quan hệ họ hàng với một người đàn ông được thiên phú cho trí tuệ lỗi lạc và địa vị xã hội cao trọng, nhưng lại sử dụng những món quà ấy để bóp méo sự thật, đưa sự chế giễu vào một cuộc thảo luận khoa học nghiêm túc nhằm che đậy định kiến của mình.
Dù tôi có thường xuyên bị đẩy vào nước sôi (ám chỉ các cuộc tranh luận nảy lửa), tôi vẫn luôn bước ra với một đôi tay sạch sẽ
Samuel Wilberforce
Khán phòng lập tức bùng nổ. Những tiếng hò reo cổ vũ hòa lẫn với những tiếng la ó phản đối. Sự ngỡ ngàng lan rộng đến mức một quý bà đã ngất xỉu ngay tại chỗ vì không thể chịu đựng được sức ép của sự thừa nhận trần trụi ấy. Nhịp độ trận đấu tiếp tục được đẩy lên cao khi nhà thực vật học Joseph Hooker, một người bạn chí cốt khác của Darwin, tiếp tục bước lên bục. Bằng những kiến thức chuyên môn sâu rộng về phân bố thực vật, Hooker đã lật tẩy sự thiếu hiểu biết của vị giám mục về các quy luật tự nhiên, giáng thêm một đòn tri thức đè bẹp những lí lẽ dựa trên cảm xúc của phe bảo thủ.
Vài ngày sau, khi những lá thư tường thuật lại diễn biến trận đánh từ Oxford gửi về đến tay Darwin, nhà tự nhiên học mới thở phào nhẹ nhõm. Nằm trong căn phòng tĩnh mịch, ông mỉm cười nhận ra một sự thật quan trọng: việc ông vắng mặt hóa ra lại là một lợi thế chiến lược. Những người như Huxley và Hooker có thể chiến đấu với sự hung hiểm và ngoan cường mà một quý tộc ôn hòa như ông không bao giờ làm được. Trận chiến tại Oxford tạo ra một thắng lợi tâm lí to lớn, khẳng định rằng những người ủng hộ thuyết tiến hóa không hề sợ hãi trước uy quyền của nhà thờ. Khoa học từ nay sẽ dùng thực chứng để tự vệ, thay vì cúi đầu trước những giáo điều cũ kĩ.
Vì sao giới thực dân bỗng tôn sùng Charles Darwin?
Trong khi những người bạn trung thành đang thay mặt mình chiến đấu ngoài chiến trường học thuật, Charles Darwin tiếp tục ẩn mình tại Down House. Tuy nhiên, sự vắng mặt trước công chúng của ông hoàn toàn không mang ý nghĩa thụ động. Dưới góc nhìn phân tích sắc sảo của nhà viết tiểu sử A. N. Wilson trong tác phẩm Charles Darwin: Victorian Mythmaker, Darwin thực chất là một nhà chiến lược tài ba, người đã chủ động kiểm soát và kiến tạo nên hình tượng của chính mình qua từng bức thư, từng tấm ảnh chân dung gửi đi khắp thế giới.
Darwin hiểu rõ sức mạnh của truyền thông thời đại Victoria. Thay vì bước lên bục diễn thuyết để rồi bộc lộ những điểm yếu về sức khỏe hay sự ấp úng trong giao tiếp, ông biến phòng làm việc của mình thành một trung tâm chỉ huy mạng lưới trí thức toàn cầu. Mỗi ngày, ông viết hàng chục lá thư gửi đến các nhà khoa học, những người chăn nuôi, các nhà ngoại giao và cả những nhà báo có sức ảnh hưởng. Lời lẽ trong thư luôn giữ một sự khiêm nhường tột độ, điềm đạm, đôi khi pha lẫn sự tự trào về sự kém cỏi của bản thân, qua đó khéo léo mời gọi sự ủng hộ từ người nhận.
Những tấm ảnh chân dung của ông cũng bắt đầu xuất hiện trên các ấn phẩm đại chúng, là một cụ già với vầng trán cao hói, bộ râu trắng muốt dài quá ngực, đôi mắt trũng sâu đượm buồn xen lẫn vẻ suy tư khắc khổ. Đó là hình ảnh hoàn hảo của một "hiền triết", một người tử vì đạo cho khoa học, gánh chịu nỗi đau thể xác để mang lại ánh sáng chân lí cho nhân loại. Công chúng Victoria, vốn chuộng những hình tượng anh hùng mang đầy tâm sự, đã hoàn toàn bị chinh phục bởi bức chân dung này.

Tuy nhiên, sự thành công vĩ đại của học thuyết Darwin trong xã hội Anh giữa thế kỉ XIX không sinh ra từ nỗ lực cá nhân của ông. A. N. Wilson chỉ ra một sự thật sâu xa hơn: Tư tưởng của Darwin đã vô tình trở thành một sản phẩm hoàn hảo, khớp nối trơn tru với guồng máy của chủ nghĩa tư bản công nghiệp và tham vọng đế quốc thời bấy giờ.
Nước Anh lúc ấy là công xưởng của thế giới, nơi những ống khói nhà máy nhả khói đen kịt lên bầu trời và các tuyến đường sắt dài hàng nghìn km vươn ra xé toạc những vùng nông thôn yên bình. Đó là một xã hội đề cao sự cạnh tranh tàn khốc, nơi những nhà tư bản giàu lên nhanh chóng trong khi hàng chục nghìn công nhân lao động kiệt sức trong các khu ổ chuột ngột ngạt. Khi triết gia Herbert Spencer đưa ra cụm từ "sự sống sót của cá thể thích nghi nhất" (survival of the fittest) để tóm tắt lí thuyết của Darwin, giới tinh hoa tư bản Anh lập tức vồ lấy nó như một chiếc phao cứu sinh về mặt đạo đức.
Họ nhìn thấy trong sự chọn lọc tự nhiên một lời biện minh tuyệt vời cho trật tự xã hội bất bình đẳng. Nếu thiên nhiên vận hành dựa trên sự cạnh tranh sinh tồn, việc kẻ mạnh nuốt chửng kẻ yếu, việc những doanh nghiệp lớn đè bẹp các xưởng nhỏ lẻ, việc Đế quốc Anh mang súng đạn đi chinh phục và đồng hóa các dân tộc khác dường như đều trở thành quy luật tự nhiên tất yếu, không thể đảo ngược.
Thuyết tiến hóa, vô hình trung, được nhào nặn thành một hệ tư tưởng hợp thức hóa cho sự bành trướng và lòng tham của con người. Darwin, từ một nhà tự nhiên học chuyên quan sát mỏ chim sẻ và sự thụ phấn của phong lan, đã được thời đại tôn lên làm vị thánh hộ mệnh của sự tiến bộ công nghiệp. Dù ông chưa từng có ý định áp dụng quy luật sinh học vào xã hội loài người, cái tên Darwin đã mãi mãi gắn liền với những chuyển động trần trụi nhất của kỉ nguyên Victoria.
Từ Nguồn gốc muôn loài đến sự thật về con người (1871)
Lùi lại thời điểm xuất bản cuốn Nguồn gốc muôn loài vào năm 1859, Darwin đã vô cùng thận trọng khi né tránh một vấn đề nhạy cảm nhất là vị trí của con người. Trong toàn bộ tác phẩm rúng động ấy, ông chỉ dành đúng một câu rụt rè ở những trang cuối cùng để nhắc về nhân loại: "Ánh sáng sẽ chiếu rọi vào nguồn gốc loài người và lịch sử của họ". Suốt hơn một thập kỉ sau đó, ông im lặng quan sát dư luận, để cho các học giả khác tự do đưa ra những kết luận tất yếu từ lí thuyết của ông.
Ánh sáng sẽ chiếu rọi vào nguồn gốc loài người và lịch sử của họ
Charles Darwin
Nhưng đến năm 1871, khi những nền tảng tư duy về sự tiến hóa đã bám rễ vững chắc vào giới học thuật, nhà hiền triết ở Down House quyết định đã đến lúc tung ra cú đòn quyết định. Ông công bố tác phẩm lớn thứ hai mang tên Nguồn gốc loài người (The Descent of Man). Tại đây, chiếc mặt nạ dè dặt cuối cùng đã rơi xuống. Darwin chính thức kéo con người khỏi bệ phóng thần thánh, đặt chúng ta vào chung một cây gia phả với thế giới động vật, trần trụi và không khoan nhượng.
Trong tác phẩm này, Darwin khẳng định rõ ràng rằng loài người hiện đại chia sẻ một tổ tiên chung với loài vượn đuôi không từ châu Phi. Mọi đặc điểm sinh học kiêu hãnh của con người, từ tư thế đứng thẳng, bộ não phát triển, cho đến đôi bàn tay khéo léo… đều là kết quả của hàng triệu năm tích lũy những biến dị có lợi qua quá trình chọn lọc tự nhiên.
Thậm chí, ông tiến xa hơn khi lí giải cả những yếu tố tưởng chừng thuộc về linh hồn và thần thánh như đạo đức, tình mẫu tử, lòng vị tha và trí tuệ. Theo Darwin, những phẩm chất này bắt nguồn từ bản năng bầy đàn của động vật bậc thấp, phát triển dần qua thời gian vì chúng giúp các quần thể sinh vật tăng khả năng sinh tồn và hợp tác với nhau.

Khi Nguồn gốc loài người ra mắt, một cơn bão dư luận mới lại bùng phát. Tạp chí Punch và nhiều ấn phẩm châm biếm khác thi nhau đăng tải hình ảnh Charles Darwin với thân hình một con vượn lông lá, tay ôm cuốn sách tiến hóa, đu đưa trên cành cây. Các nhà thần học bảo thủ la ó, chỉ trích ông đã tước đoạt nốt chút phẩm giá cuối cùng của con người do Chúa ban tặng.
Khác với sự hoảng loạn và ốm yếu mười hai năm về trước, Charles Darwin của tuổi 62 đón nhận làn sóng phản đối này bằng một sự bình thản tuyệt đối. Đọc những bài báo bôi nhọ mình vào mỗi buổi sáng thứ hai hay thứ ba đầu tuần, ông chỉ mỉm cười nhẹ nhàng và lưu giữ những bức tranh biếm họa ấy vào một bộ sưu tập cá nhân. Căn bệnh dạ dày mãn tính vẫn thỉnh thoảng hành hạ, nhưng những bóng ma tâm lí về nỗi sợ hãi dị giáo đã hoàn toàn tan biến. Ông hiểu rằng sự thật khoa học giống như dòng nước chảy dồn dập, một khi đã phá vỡ con đập của sự ngu muội, sẽ không một lời đả kích nào có thể ngăn nó lại.
Bằng việc dũng cảm đối mặt với gốc rễ thấp hèn của nhân loại, Darwin đã hoàn thiện bức tranh vĩ đại về sự sống. Ông cho thế giới thấy rằng việc thừa nhận con người lớn lên từ một tổ tiên động vật không làm giảm đi giá trị của chúng ta; trái lại, nó mang đến một góc nhìn đầy thi vị. Từ những khởi đầu vật chất tối tăm, qua vô số cuộc đấu tranh sinh tồn nghiệt ngã, sự sống đã tự nhào nặn ra một sinh vật có khả năng tư duy, biết yêu thương và đủ trí tuệ để quay lại tìm hiểu chính cội nguồn của bản thân mình. Trận chiến ý tưởng đã ngã ngũ, nhường chỗ cho sự ra đời của một thế giới quan hoàn toàn mới mẻ trên hành tinh này.
Kì cuối: Di sản của người dám tử vì đạo cho khoa học


