Chỉ 1,2% nông hộ có đủ dữ liệu truy xuất nguồn gốc: Hợp tác xã đang 'mắc kẹt' ở đâu trong chuyển đổi số?
Dù 94,6% thành viên hợp tác xã đã dùng điện thoại thông minh, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%. Tại Diễn đàn "Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường" ngày 7/10, nhiều chuyên gia chỉ ra điểm nghẽn không nằm ở thiết bị, mà ở chính dữ liệu và năng lực quản trị.
Chuyển đổi số Hợp tác xã: Có công cụ số nhưng thiếu dữ liệu thực chất
Diễn đàn do Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế hợp tác tổ chức.
Chia sẻ với báo chí, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho rằng câu hỏi đặt ra hiện nay không còn là hợp tác xã có cần chuyển đổi số hay không, mà là bắt đầu từ đâu và chuyển đổi số tạo ra giá trị gì cho hợp tác xã, thành viên.
Theo khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, vẫn ở giai đoạn bắt đầu. Bà Vân nhận định, điểm nghẽn của chuyển đổi số trong hợp tác xã hiện nay không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ, mà còn nằm ở dữ liệu, kỹ năng và phương thức quản trị. Quan trọng hơn cả là khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế thực sự.

Bà Vân cho rằng chuyển đổi số không nên bắt đầu từ câu hỏi "mua công nghệ gì", mà phải bắt đầu từ câu hỏi "công nghệ giải quyết được vấn đề gì". Dữ liệu về nguyên liệu, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường chính là nền tảng để hợp tác xã quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Chỉ 20% sản phẩm đăng ký có đủ thông tin để truy xuất
Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 36.270 hợp tác xã với gần 7,1 triệu thành viên, đóng góp khoảng 4,8% GDP. Hợp tác xã nông nghiệp chiếm khoảng 66% tổng số.
Khoảng 35% hợp tác xã đã bắt đầu sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, số liệu trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 31/8/2026 cho thấy khoảng cách rất lớn giữa đăng ký và thực chất: trong 793.623 sản phẩm đăng ký, chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương khoảng 20%.
Đáng chú ý hơn, trong 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, tương ứng 1,2%. Riêng từ ngày 1/7 đến 31/8/2026, trong hơn 288.000 sản phẩm đăng ký mới, chỉ có 323 sản phẩm có thông tin hoàn chỉnh.

Theo ông Tuất, mã QR chỉ là "cửa sổ" để người tiêu dùng tra cứu. Giá trị cốt lõi nằm ở dữ liệu phía sau, phải được ghi nhận đúng thời điểm sản xuất, có kiểm tra, xác nhận và xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến thị trường. Bài toán chuyển đổi số của hợp tác xã, vì vậy, không chỉ là có thêm một phần mềm, mà trước hết là năng lực tạo lập, cập nhật và sử dụng dữ liệu.
Dữ liệu đồng bộ giúp sầu riêng rút ngắn thời gian thông quan còn 6-11 ngày
Yêu cầu về dữ liệu ngày càng rõ nét khi các thị trường chuyển từ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát thông tin xuyên suốt cả chuỗi cung ứng. Với sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được cấp mã số, quản lý chặt chẽ. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cũng đặt ra yêu cầu dữ liệu địa lý với các mặt hàng như cà phê, cao su, gỗ.
Theo ông Đào Ngọc Tuất, kết quả thí điểm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trong nửa đầu năm 2026 cho thấy hiệu quả rõ rệt. Khi dữ liệu được quản lý đồng bộ tại 255 vùng trồng, 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ với 919 lô hàng, thời gian từ thu hái đến thông quan đã rút ngắn từ 15-20 ngày xuống còn 6-11 ngày. Ngược lại, thiếu kết nối dữ liệu giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói có thể khiến hàng hóa ách tắc tại cửa khẩu, phát sinh chi phí kiểm nghiệm và rủi ro thương mại.

Trong chuỗi này, hợp tác xã giữ vai trò tập hợp nông hộ, thống nhất quy trình ghi nhật ký sản xuất, quản lý nguồn nguyên liệu và kết nối với doanh nghiệp, cơ quan quản lý cũng như nhà cung cấp công nghệ. Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo hợp tác xã quy mô nhỏ không nên vội xây dựng phần mềm riêng lẻ, mà nên sử dụng các giải pháp sẵn có đã kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ, theo hướng tạo lập dữ liệu một lần và sử dụng nhiều lần.
"Mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào là đầu tư lệch thứ tự"
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho rằng cần xác định đúng thứ tự ưu tiên khi chuyển đổi số. Hiện chỉ khoảng 15% hợp tác xã sử dụng phần mềm quản trị, trong khi khoảng 35% ứng dụng truy xuất nguồn gốc. "Mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào là đầu tư lệch thứ tự", ông Hạnh nhận định.

Theo ông, hợp tác xã nên kiểm tra điều kiện tiếp cận chính sách hỗ trợ, tự đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và lựa chọn giải pháp phù hợp, ưu tiên các nền tảng có thể thuê, xuất được dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Nguyên tắc nên theo đuổi là "dùng chung trước, đầu tư riêng sau", tránh để dữ liệu bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất.
Khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy năng lực nhân sự cũng là một điểm nghẽn lớn. Chỉ khoảng 13% lãnh đạo hợp tác xã có trình độ từ đại học trở lên, 48% chưa qua các chương trình đào tạo phù hợp. Các kỹ năng về truyền thông, thương mại điện tử, công nghệ thông tin và khai thác thông tin chỉ đạt khoảng 2-2,5 điểm, dưới mức trung bình.
Trong khi đó, 94,6% thành viên hợp tác xã đã sử dụng điện thoại thông minh, một điều kiện thuận lợi để mở rộng ứng dụng số. Tuy nhiên, tần suất sử dụng các ứng dụng số, thương mại điện tử và hoạt động trực tuyến trong thực tế vẫn còn thấp.
Từ thực tế địa phương, ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, cho rằng chuyển đổi số phải làm thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, kết nối chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường. Tỉnh đã hình thành 108 chuỗi liên kết giá trị, nhưng theo ông Trường, con số chuỗi không phải mục tiêu cuối cùng. Điều quan trọng là các chuỗi phải hoạt động thực chất, có dữ liệu, tiêu chuẩn, thương hiệu và thị trường ổn định.
Có thể mất 5-10 năm để thấy rõ hiệu quả
Bà Cao Xuân Thu Vân cho rằng thước đo chuyển đổi số không phải hợp tác xã có bao nhiêu phần mềm hay thiết bị, mà là quản trị tốt hơn bao nhiêu, chi phí giảm thế nào, năng suất và chất lượng tăng ra sao, thị trường mở rộng thế nào và cuối cùng thu nhập thành viên có tăng hay không. Theo bà, chuyển đổi số là quá trình dài hạn, có thể cần 5-10 năm mới tạo ra thay đổi rõ nét về hiệu quả và thu nhập.

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam định hướng xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số cho khu vực kinh tế tập thể, gắn với 3 yêu cầu: nâng cao quản trị, phát triển chuỗi giá trị và mở rộng thị trường. Từ góc độ chính sách, ông Hoàng Hữu Hạnh đề xuất hỗ trợ hợp tác xã theo từng bậc trưởng thành, xây dựng một đầu mối dữ liệu chung, chuẩn hóa danh mục nền tảng dùng chung và hình thành mạng lưới nhân lực tư vấn tại chỗ. Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình cũng đề xuất xây dựng nền tảng số dùng chung, hỗ trợ "năng lực số" thay vì chỉ hỗ trợ thiết bị, cùng cơ chế tài chính, tín dụng phù hợp cho đầu tư công nghệ.
Chuyển đổi số trong hợp tác xã đang chuyển từ câu hỏi "có hay không" sang "bắt đầu từ đâu và làm như thế nào". Với khu vực này, điểm xuất phát có thể không phải một công nghệ mới, mà là những việc căn bản hơn: chuẩn hóa sổ sách, danh sách thành viên, nhật ký sản xuất, dữ liệu vùng nguyên liệu và thông tin khách hàng.

.jpg)

