Kinh tế 4.0

Công cụ thiết kế chip đắt đỏ, các cơ sở đại học tại Việt Nam chỉ dám dùng bản lỗi thời

Lam Thanh 03/10/2025 12:39

Thiết kế chip hiện đại phụ thuộc vào các công cụ có giấy phép sử dụng hàng chục nghìn USD/năm. Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam không đủ khả năng chi trả để sở hữu đầy đủ bộ phần mềm EDA.

Biết lý thuyết, nhưng chưa từng thấy thiết bị

Theo báo cáo "Kiến tạo tương lai bán dẫn Việt Nam" do Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam đều thiếu các phòng thí nghiệm tiên tiến phục vụ đào tạo và nghiên cứu về điện tử và bán dẫn. Nhiều khoa kỹ thuật thí nghiệm được các mạch điện đơn giản chứ không đáp ứng được yêu cầu thí nghiệm bán dẫn ở quy mô nano.

Trên cả nước, số lượng phòng sạch dành cho đào tạo, nghiên cứu hoặc chế tạo thử nghiệm vẫn rất hạn chế; vì vậy mà đầu ra nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học còn thấp và sinh viên tốt nghiệp tuy nắm vững nền tảng lý thuyết nhưng gần như không có kinh nghiệm thực hành các quy trình bán dẫn.

“Một sinh viên ngành vi điện tử có thể học về quy trình chế tạo bán dẫn oxit kim loại bù nhau (CMOS) qua sách vở, nhưng chưa từng nhìn thấy hoặc vận hành thiết bị lắng đọng hay khắc quang trong suốt quá trình học”, WB nêu.

Ngoài ra, thiết kế chip hiện đại phụ thuộc vào các công cụ thiết kế (từ các hãng như Cadence, Synopsys, Siemens EDA) phục vụ mô phỏng, thiết kế layout và kiểm định mạch. Các công cụ EDA này có chi phí giấy phép sử dụng lên đến hàng chục nghìn USD mỗi năm.

Ảnh màn hình 2025-10-03 lúc 11.19.01
Thiết kế chip hiện đại phụ thuộc vào các công cụ có chi phí giấy phép sử dụng hàng chục nghìn USD mỗi năm

“Các trường đại học hàng đầu thế giới thường mua giấy phép cho toàn trường, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và thực hành; còn phần lớn các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam thì không đủ khả năng chi trả để sở hữu đầy đủ bộ phần mềm EDA. Một số chỉ có giấy phép giới hạn chức năng hoặc phải sử dụng các phiên bản lỗi thời”, WB nêu.

Khảo sát cho thấy sinh viên Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP.HCM) được sử dụng công cụ của Cadence nhưng không có của Synopsys, tức là không được tiếp cận đồng thời cả hai nền tảng chính. Ngoài ra, Đại học Quốc gia TP.HCM hiện phải phụ thuộc vào tài trợ từ doanh nghiệp để có quyền truy cập một số công cụ nhất định.

“Những thiếu hụt này khiến kéo dài thời gian đào tạo tại chỗ cho sinh viên sau khi vào làm việc tại doanh nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp không được tiếp cận đầy đủ với các công cụ EDA nên chưa thành thạo chính những phần mềm sẽ cần sử dụng trong công việc thực tế, lại tạo ra một khoảng cách kỹ năng rõ rệt”, WB nhìn nhận.

Thiếu cơ sở hạ tầng dùng chung

WB cũng cho hay hiện Việt Nam chưa có trung tâm R&D nội địa hay dây chuyền thí điểm đáng kể nào về đóng gói tiên tiến hoặc thiết kế chip - những phân đoạn mà các nước đang phát triển khác đang đầu tư mạnh. Các nhà nghiên cứu buộc phải gửi mẫu chip ra nước ngoài để chế tạo và kiểm thử, dẫn đến chậm trễ và nguy cơ rò rỉ sáng kiến.

Có một số nỗ lực mới manh nha như NIC gần Hà Nội hay các phòng thí nghiệm mới tại Đại học Quốc gia TP.HCM, nhưng quy mô vẫn chưa đủ lớn để thúc đẩy cả hệ sinh thái. Việc thiếu một “trung tâm” để các cơ sở giáo dục đại học, các công ty khởi nghiệp và các tập đoàn đa quốc gia cùng hiện diện đang hạn chế hiệu ứng lan tỏa và mạng lưới thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

“Việc chưa có các công viên đổi mới sáng tạo gắn với cơ sở giáo dục đại học hay các viện nghiên cứu chuyên biệt về bán dẫn là khiếm khuyết về cấu trúc”, WB nhận định.

quy-trinh-san-xuat-chi-ban-dan.jpg
WB khuyến nghị Việt Nam phát triển một cơ sở dữ liệu tập trung về thiết bị chuyên dụng

WB cũng cho hay nếu Việt Nam phát triển được một cơ sở dữ liệu tập trung về tất cả các thiết bị chuyên dụng hiện có tại các trung tâm quốc gia và cơ sở giáo dục đại học trên cả nước, điều đó sẽ thúc đẩy hợp tác và tối ưu hóa việc sử dụng thiết bị.

Các thiết bị chưa sử dụng hết công suất của cơ sở giáo dục đại học này có thể được các nhà nghiên cứu hay sinh viên của cơ sở khác hoặc từ doanh nghiệp sử dụng.

Ngoài ra, một khoảng cách thường bị bỏ qua là công tác duy trì hoạt động của các phòng thí nghiệm với thiết bị hiện đại. Các cơ sở giáo dục đại học mua được kính hiển vi hoặc máy khắc công nghệ cao, nhưng nếu để hỏng lại không có kinh phí hoặc chuyên môn để sửa chữa, để thiết bị nằm không.

“Mỗi khoản đầu tư lớn vào phòng thí nghiệm cần kèm theo gói bảo trì hoặc hợp đồng dịch vụ kéo dài 7 - 10 năm. Gói này có thể bao gồm đào tạo kỹ thuật viên và cung cấp phụ tùng thay thế như một phần của thỏa thuận mua sắm”, WB khuyến nghị.

WB cũng lưu ý rằng thách thức hạ tầng này không chỉ là vấn đề riêng của ngành bán dẫn, mà còn ở nhiều lĩnh vực khác như công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo và khoa học vật liệu…

Nổi bật
      Mới nhất
      Công cụ thiết kế chip đắt đỏ, các cơ sở đại học tại Việt Nam chỉ dám dùng bản lỗi thời
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO