Cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp: 'Đồng đội hi sinh để chúng tôi được sống trở về'
Bức ảnh bốn người lính cùng đơn vị đã ngả màu theo năm tháng vẫn được cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp gìn giữ như một báu vật. Ba người trong ảnh đã hy sinh, một người trở về. Có đồng đội đã được đón về quê hương sau nhiều năm tìm kiếm, nhưng cũng có người đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt…
Hơn nửa thế kỉ qua, cứ mỗi dịp 27/7 hay những ngày tri ân, cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp lại lặng lẽ thắp hương cho đồng đội, tiếp tục giữ lời hứa với những người đã hi sinh.
Người lính cắt rào mở đường
Trong căn nhà nhỏ ở Hà Nội, cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp vẫn cẩn thận lưu giữ những bức ảnh đã ngả màu theo năm tháng. Nhìn những gương mặt đồng đội, ông không nhắc nhiều đến ba lần mình bị thương. Điều khiến ông day dứt hơn cả là kí ức về những người đã mãi nằm lại nơi chiến trường Tây Nam.
Tháng 8/1974, trong trận đánh đồn Kênh Mới (Gò Quao, Kiên Giang), đơn vị họp triển khai phương án tác chiến. Có một nhiệm vụ đặc biệt: Cắt hàng rào mở cửa đột kích. Đó là vị trí gần như chấp nhận đối mặt với cái chết nếu địch phát hiện. Không chút do dự, chàng chiến sĩ trẻ Phạm Quang Hiệp khi ấy đã giơ tay xung phong.


Người trực tiếp hướng dẫn ông từng động tác cũng là mũi trưởng của đội là chiến sĩ Kiểm – người đồng đội quê Nông Cống (Thanh Hóa), nước da ngăm đen, mái tóc xoăn và thổi sáo rất hay. Từ cách dùng kìm cắt từng sợi cáp, bẻ nhẹ để không phát ra tiếng động, đến cách cuộn hàng rào thành lối mở cho cả mũi tiến công phía sau… đồng chí Kiểm đều kiên nhẫn chỉ dẫn.
“Khi cắt xong, anh Kiểm bảo tôi chạy về gọi anh em xung phong lên, còn anh ở lại giữ rào”, ông nhớ lại đó cũng là lần cuối ông nhìn thấy đồng chí Kiểm.
Chưa đến giờ nổ súng, một mũi tiến công khác bị lộ. Tiếng mìn bất ngờ vang lên xé toạc màn đêm. Địch dồn toàn bộ hỏa lực về hướng đơn vị của ông, hoá ra giặc đã phát hiện mũi thứ yếu của mình nên đồng chí Kiểm bắt buộc nổ mìn sớm. Ngay sau đấy, anh Kiểm hi sinh.
“Giây phút anh Kiểm hi sinh, tôi vô cùng cảm xúc bởi mới cách đó khoảng 10 phút, tôi và anh còn tâm sự với nhau, vậy mà…”, ông Hiệp bỏ lửng câu nói. Đến tận bây giờ, mỗi lần nhắc đến anh Kiểm, ký ức ấy vẫn khiến người cựu chiến binh lặng đi.
Cũng ngay sau đó, ông Hiệp bị mảnh đạn găm vào trán, máu chảy ướt cả bàn tay khi đưa lên sờ vết thương nóng rát, phải khâu 7 mũi. Đó là một trong ba lần ông mang thương tích suốt cuộc đời quân ngũ.
Trong lúc đơn vị làm chủ trận địa, các chiến sĩ được giao thu gom vũ khí và kiểm tra giấy tờ, tư trang của đối phương để phục vụ công tác sau trận đánh. Ông Hiệp tình cờ thấy trong túi áo của một binh sĩ đối phương có một lọ nước hoa nhỏ.
“Ngày ấy ở Hà Nội, mẹ tôi vẫn hay bảo nước hoa để sát trùng những vết côn trùng cắn. Tôi nghĩ nước hoa có cồn nên mở ra bôi luôn lên vết thương trên trán của mình”, ông cười nhớ lại.
Sau này phải giải oan mãi khi bị hỏi “đi đánh trận mà nước hoa thơm phức”. Mỗi lần kể lại, ông đều bảo đó chỉ là một phản xạ rất bản năng của người lính giữa chiến trường, khi điều duy nhất họ nghĩ đến là làm sao cầm được máu để tiếp tục chiến đấu.


Những lời hứa còn dang dở
Điều ám ảnh ông Hiệp suốt hơn nửa thế kỉ không chỉ là những trận đánh, mà là những lời dặn của đồng đội giữa ranh giới sống và chết.
Ngay trong trận Kênh Mới kể trên, khi bị thương rất nặng ở đầu thì bên kia đồng chí Giới kêu lên bị thương ở bụng, thở gấp rồi nắm lấy ông: “Khả năng tao chết trận này. Nếu sau này hòa bình, mày về được quê tao thì nói với bố mẹ tao là tao hi sinh ở đây”.
Ông Hiệp lặng người vì trước đó đồng chí Kiểm đã hi sinh rồi. Thế nhưng số phận lại giữ Giới ở lại. Sau nhiều ca phẫu thuật, người đồng đội ấy đã vượt qua cửa tử.
Nhưng ít tháng sau, chiến tranh lại cướp đi một người bạn khác.
Đêm 11/3/1975, bên bờ con kênh ở Kiên Giang, sau chặng hành quân xuyên đêm, ông Hiệp cùng đồng đội Nguyễn Hữu Đặng tranh thủ ngồi nghỉ, châm điếu thuốc lá cuốn cho tỉnh táo, trước khi vượt kênh áp sát địch.
Trong màn đêm yên tĩnh hiếm hoi trước giờ nổ súng, Đặng bất ngờ cười rồi buông một câu như nói đùa: “Hiệp à, khả năng trận này tao kỉ niệm đồng ruộng miền Tây 50 cân thịt của mình để bón lúa”.
Ông lại chỉ biết động viên là chiến đấu hết mình thôi. Không ai ngờ chiều hôm sau, lời nói ấy lại trở thành sự thật. Đồng chí Đặng hi sinh khi chặn đoàn xe thiết giáp địch bên ngoài sân bay dã chiến Lộ Tẻ. Đơn vị phải rút lui trong đêm, không thể đưa thi thể đồng đội về.
“Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in câu nói hôm ấy, nó ám ảnh đầy xót xa”, ông Hiệp trầm ngâm.
Hành trình trở về của những người đã khuất
Chiến tranh kết thúc, nhưng với ông Hiệp, nhiều cuộc hành quân khác mới bắt đầu. Ông lần lượt tìm về quê của những người đồng đội đã hi sinh. Có gia đình chỉ còn giữ một tờ giấy báo tử. Có người chỉ biết con mình mất ở chiến trường miền Tây nhưng không hề biết đang nằm ở nghĩa trang nào.
Gia đình liệt sĩ Nguyễn Hữu Đặng là một trong những trường hợp như vậy. Sau nhiều năm, từ những kí ức của người đồng đội còn sống và những thông tin ít ỏi trên giấy báo tử, ông Hiệp đã cùng thân nhân trở lại chiến trường xưa, đến nghĩa trang nơi các liệt sĩ được quy tập.
Thời điểm ấy, việc giám định ADN chưa phổ biến, nhiều gia đình vẫn đặt niềm tin vào các phương pháp tìm kiếm khác. Gia đình liệt sĩ Đặng sau đó đã đưa phần mộ mà họ tin là của anh về quê hương để hương khói. Dù khoa học ngày nay đã mở ra thêm nhiều cơ hội xác minh danh tính, với người thân liệt sĩ khi ấy, điều quan trọng nhất là sau bao năm chờ đợi, họ đã có một nơi để gửi gắm nỗi nhớ và tình cảm dành cho người đã khuất.
Những chuyến đi như vậy khiến ông Hiệp hiểu rằng, điều đau đớn nhất sau chiến tranh không chỉ là mất mát, mà còn là sự chờ đợi kéo dài hàng chục năm của những người mẹ, người cha chưa từng biết con mình đang ở đâu.

Ông lặng đi rồi nói chậm rãi: “Đồng đội hi sinh để cho mình được sống trở về”. Chính suy nghĩ ấy thôi thúc ông cùng những cựu chiến binh trong đơn vị lập quỹ, kết nối với chính quyền địa phương tổ chức những chuyến đưa thân nhân liệt sĩ vào Kiên Giang thăm nghĩa trang – nơi nhiều đồng đội của họ đã được quy tập.
Trong những chuyến trở lại chiến trường xưa đó cùng thân nhân , điều khiến ông Hiệp xúc động nhất là hình ảnh một người mẹ liệt sĩ đã ngoài 100 tuổi, từ Thanh Hóa tha thiết xin con cháu và các cựu chiến binh đưa mình vào Kiên Giang. Sau hàng chục năm chờ đợi, bà chỉ có một mong ước duy nhất: Được tận tay thắp nén hương cho con và đón con trở về.
“Khi đứng trước anh linh các liệt sĩ, bà gần như không nói nên lời. Lúc lên phát biểu cảm ơn, bà run đến mức tôi và một đồng đội phải đứng hai bên dìu. Chứng kiến khoảnh khắc ấy, chúng tôi hiểu rằng mọi nỗ lực của mình đều xứng đáng”, ông Hiệp nghẹn giọng.
Có những gia đình sau mấy chục năm mới lần đầu được đứng trước phần mộ của người thân. Có người quyết định đưa hài cốt về quê. Nhưng cũng có người lặng lẽ xin để con mình ở lại với đồng đội, bởi tin rằng nơi ấy các anh vẫn đang được chăm nom, hương khói.
Đối với những người lính còn sống, mỗi chuyến đưa thân nhân liệt sĩ trở lại nghĩa trang không chỉ là một hành trình tri ân, mà còn là cách họ thực hiện lời hứa với những đồng đội đã nằm lại. Bởi sau hơn nửa thế kỉ, điều họ mong mỏi nhất vẫn là để những người đã hy sinh được trở về, hoặc ít nhất, người thân của họ có thể tìm được một nơi để gửi gắm nỗi nhớ.
Người kể tiếp câu chuyện của đồng đội
Những chuyến trở lại chiến trường xưa càng khiến cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp thấm thía rằng, chiến tranh đã lùi xa nhưng hành trình tri ân vẫn chưa thể khép lại. Vẫn còn đó nhiều gia đình mòn mỏi chờ tin người thân, nhiều liệt sĩ chưa xác định được danh tính và cả những kí ức chỉ còn được lưu giữ trong trí nhớ của những người lính năm xưa.
Bởi vậy, khi chiến dịch 500 ngày đêm “trả lại tên” cho các anh hùng liệt sĩ được triển khai, ông xem đó không chỉ là một chương trình tri ân, mà còn là cơ hội để nối lại những mảnh ghép còn dang dở của lịch sử. Theo ông, mỗi cựu chiến binh còn sống đều là một “nhân chứng sống”, mỗi kí ức về địa danh, trận đánh hay người đồng đội đã hi sinh đều có thể trở thành manh mối quý giá giúp đưa các anh trở về với gia đình.
“Bây giờ thân nhân các liệt sĩ ngày càng ít đi, những cựu chiến binh trực tiếp chiến đấu như chúng tôi cũng không còn nhiều. Nếu không làm ngay hôm nay thì sẽ rất khó nối lại những kí ức còn sót lại”, ông Hiệp trăn trở.
Theo ông, chiến dịch ấy không chỉ trả lại tên cho liệt sĩ, mà còn trả lại sự bình yên cho những gia đình đã chờ đợi suốt hàng chục năm.
Điều khiến người cựu chiến binh ngoài 80 tuổi thêm vững tin là ngày càng có nhiều bạn trẻ quan tâm đến lịch sử bằng một cách rất gần gũi. Ông xúc động khi chứng kiến sinh viên Học viện Ngoại giao tham gia chương trình “Thử thách Gene Việt”, lắng nghe câu chuyện của các cựu chiến binh, tìm hiểu về hành trình xác định danh tính liệt sĩ và lan tỏa tinh thần tri ân bằng chính những sáng kiến của tuổi trẻ.

“Tôi từng nghĩ lớp trẻ bây giờ sẽ dần xa lịch sử. Nhưng khi gặp các cháu, nghe những ca khúc các cháu viết về hòa bình, thấy các cháu say mê tìm hiểu những câu chuyện của đồng đội chúng tôi, tôi rất mừng. Lịch sử vẫn đang được các cháu tiếp nối theo cách của thế hệ mình”.
Cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp tin rằng, việc trả lại tên cho các anh hùng liệt sĩ không chỉ là nhiệm vụ của khoa học hay công nghệ, mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng. Bởi mỗi danh tính được xác định không chỉ giúp một gia đình vơi đi nỗi chờ đợi, mà còn góp thêm một mảnh ghép để lịch sử được kể đầy đủ hơn cho các thế hệ mai sau.
Có lần đi cùng vợ qua cửa kiểm tra an ninh ở sân bay Phú Quốc, máy dò kim loại bất ngờ phát tín hiệu. Sau vài lần kiểm tra, ông Hiệp cười bảo nhân viên: “Có lẽ mảnh đạn từ chiến tranh vẫn còn nằm trong tay tôi”.
Mảnh đạn ấy vẫn nằm trong cánh tay người lính già như một lời nhắc nhớ những người đồng đội đã gửi lại tuổi hai mươi nơi chiến trường.
“Chúng tôi luôn nghĩ các đồng đội hi sinh là để cho mình được sống trở về nên mình không bao giờ được quên. Vì thế, còn sức ngày nào, tôi còn kể về họ, tri ân họ, còn đi tìm họ và còn giúp đỡ gia đình họ. Với người lính chúng tôi, chừng nào còn có thể kể lại tên một người đồng đội, chừng đó họ vẫn chưa thực sự rời xa”.

