‘Đóng băng’ khối u ở âm 200°C: 'Vũ khí' mới trong cuộc chiến ung thư?
Hồ Quang (thực hiện)•28/07/2026 20:01
Liệu pháp đông lạnh khối u (cryoablation) sử dụng nhiệt độ gần âm 200°C để “đóng băng” và tiêu diệt khối u đang mở ra hướng điều trị ung thư ít xâm lấn.
Mỗi năm, hàng triệu bệnh nhân ung thư trên thế giới phải đối mặt với những cuộc phẫu thuật lớn, những đợt hóa trị và xạ trị kéo dài cùng không ít biến chứng.
Trong bối cảnh đó, một hướng điều trị hoàn toàn khác đang thu hút sự quan tâm của giới y khoa: Sử dụng nhiệt độ cực thấp, xuống tới gần âm 200 độ C, để "đóng băng" và tiêu diệt tế bào ung thư ngay tại vị trí tổn thương. Không chỉ ít xâm lấn, rút ngắn thời gian hồi phục, kĩ thuật này còn được kì vọng có thể kích hoạt hệ miễn dịch tham gia tấn công các tế bào ung thư còn sót lại, mở ra một chương mới trong điều trị cá thể hóa.
ThS.BS Nguyễn Hữu Huy, Quản lí Đơn vị Hóa trị, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á (TP.HCM). Ảnh: NVCC
Vậy cơ chế của phương pháp này hoạt động ra sao, bệnh nhân nào phù hợp, liệu có thể thay thế phẫu thuật và đâu là cơ hội để triển khai rộng rãi tại Việt Nam? Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với ThS.BS Nguyễn Hữu Huy, Quản lí Đơn vị Hóa trị, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á, để làm rõ những vấn đề đang được giới chuyên môn đặc biệt quan tâm.
Kĩ thuật cryoablation phù hợp với người lớn tuổi và có nhiều bệnh lí nội khoa
- Thưa bác sĩ, mới đây các nhà khoa học trên thế giới tiếp tục nghiên cứu phương pháp điều trị ụng thư bằng kĩ thuật đông lạnh khối u sử dụng nhiệt độ cực thấp để tiêu diệt tế bào ung thư. Cụ thể, đầu dò được đưa trực tiếp vào khối u tạo nhiệt độ xuống tới khoảng âm 200 độ C, hình thành một "quả cầu băng" bao quanh vùng tổn thương. Xin bác sĩ giải thích chi tiết hơn về cơ chế sinh học khiến tế bào ung thư bị tiêu diệt khi tiếp xúc với mức nhiệt độ khắc nghiệt này?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Cryoablation, là một kĩ thuật sử dụng khí argon áp suất cao để tạo nhiệt độ rất thấp ở đầu kim điều trị. Mặc dù đầu dò có thể đạt mức nhiệt độ từ khoảng âm 140 độ C đến gần âm 190 độ C tùy thuộc vào hệ thống, nhưng điều quan trọng nhất là vùng mô khối u phải đạt ít nhất khoảng âm 20 đến âm 40 độ C để có thể đảm bảo các tế bào ung thư bị tiêu diệt hoàn toàn.
Cơ chế tiêu diệt tế bào này diễn ra qua nhiều giai đoạn sinh học phức tạp. Trước hết là sự hình thành các tinh thể băng ở cả bên trong và bên ngoài tế bào, từ đó làm vỡ màng tế bào, màng nhân và các bào quan. Kế tiếp, sự mất cân bằng áp suất thẩm thấu sẽ xảy ra, kéo lượng nước ra khỏi tế bào khiến tế bào co rút lại và sau đó vỡ tung khi bước vào quá trình rã đông.
Song song với đó, phương pháp này còn gây tổn thương các vi mạch nuôi khối u, dẫn đến huyết khối các mao mạch, gây thiếu máu cục bộ và hoại tử thứ phát. Một điểm rất đáng chú ý là quá trình này còn giúp hoạt hóa đáp ứng miễn dịch. Cụ thể, khi tế bào ung thư chết đi, chúng sẽ giải phóng kháng nguyên, có thể kích thích hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại.
Đây chính là một hướng nghiên cứu đang rất được quan tâm hiện nay, đặc biệt là khi kết hợp cùng với các loại thuốc miễn dịch. Do vậy, hiệu quả của cryoablation không chỉ đơn thuần đến từ tác động vật lí của nhiệt độ cực thấp mà còn bắt nguồn từ các đáp ứng sinh học xảy ra sau quá trình thủ thuật.
- Quá trình đông lạnh và rã đông liên tiếp sẽ phá hủy các tế bào ung thư, sau đó phần mô bị tiêu diệt sẽ được cơ thể hấp thụ dần. Cơ chế tự hấp thụ này thường diễn ra trong thời gian bao lâu và liệu có nguy cơ gây ra các phản ứng viêm nhiễm hoặc biến chứng nào cho người bệnh không, thưa bác sĩ?
-ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Sau khi các tế bào ung thư bị hoại tử hoàn toàn, cơ thể con người sẽ tự động huy động các đại thực bào cùng với các tế bào miễn dịch di chuyển đến khu vực tổn thương để dọn dẹp phần mô chết.
Quá trình dọn dẹp này sẽ diễn ra một cách từ từ và phụ thuộc vào đặc điểm của từng khối u. Đối với những khối u có kích thước nhỏ, phần mô hoại tử có thể được cơ thể hấp thu trong khoảng thời gian từ vài tuần cho đến vài tháng. Tuy nhiên, đối với các khối u lớn hơn, thời gian hấp thu có thể kéo dài từ 6 đến 12 tháng, hoặc thậm chí lâu hơn nữa, tùy thuộc vào vị trí cũng như kích thước cụ thể của tổn thương.
Cần lưu ý rằng trong giai đoạn này, hình ảnh ghi nhận trên các bản chụp CT hoặc MRI vẫn có thể cho thấy vùng tổn thương tồn tại, nhưng điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc quá trình điều trị đã thất bại.
Một phản ứng viêm nhẹ tại chỗ là hiện tượng sinh lí bình thường, biểu hiện bằng đau nhẹ, sốt nhẹ hoặc phù nề trong vài ngày đầu. Biến chứng nặng tương đối hiếm nếu thủ thuật được thực hiện đúng chỉ định và dưới hướng dẫn hình ảnh. Tuy nhiên, vẫn có thể gặp chảy máu, nhiễm trùng, tổn thương cơ quan lân cận hoặc rò dịch, tùy vị trí điều trị.
“
Cryoablation, là một kĩ thuật sử dụng khí argon áp suất cao để tạo nhiệt độ rất thấp ở đầu kim điều trị. Mặc dù đầu dò có thể đạt mức nhiệt độ từ khoảng âm 140 độ C đến gần âm 190 độ C tùy thuộc vào hệ thống, nhưng điều quan trọng nhất là vùng mô khối u phải đạt ít nhất khoảng âm 20 đến âm 40 độ C để có thể đảm bảo các tế bào ung thư bị tiêu diệt hoàn toàn.
ThS.BS Nguyễn Hữu Huy
- Phương pháp đông lạnh được đánh giá là ít xâm lấn hơn so với nhiều phương pháp điều trị truyền thống. Bác sĩ có thể phân tích chi tiết những lợi điểm vượt trội của kĩ thuật này so với phương pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u thông thường đang được áp dụng phổ biến hiện nay?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Cần khẳng định rõ rằng kĩ thuật cryoablation không ra đời với mục đích thay thế hoàn toàn phương pháp phẫu thuật, mà nó đóng vai trò là một lựa chọn bổ sung vô cùng đắc lực trong những trường hợp bệnh lí phù hợp.
Những ưu điểm nổi bật của kĩ thuật này trước tiên nằm ở mức độ xâm lấn vô cùng thấp, bởi các bác sĩ chỉ cần đưa kim xuyên qua da, từ đó giúp người bệnh ít cảm thấy đau đớn và giảm thiểu tối đa tình trạng mất máu. Thủ thuật này hoàn toàn có thể được thực hiện dưới hình thức gây tê hoặc gây mê trong khoảng thời gian ngắn. Nhờ mức độ can thiệp tối thiểu, thời gian hồi phục của bệnh nhân diễn ra rất nhanh, với đa số người bệnh có thể được xuất viện chỉ sau 24 đến 48 giờ đồng hồ. Thêm vào đó, phương pháp này giúp bảo tồn tối đa phần mô lành cũng như chức năng hoạt động của các cơ quan xung quanh.
Đặc biệt, đây là giải pháp cực kì phù hợp đối với người cao tuổi hoặc những bệnh nhân đang mang trong mình nhiều bệnh lí nội khoa nền, dẫn đến việc không đủ điều kiện sức khỏe để trải qua các cuộc phẫu thuật lớn.
Tuy nhiên, phẫu thuật vẫn là tiêu chuẩn điều trị triệt căn đối với nhiều loại ung thư giai đoạn sớm. Cryoablation thường được cân nhắc khi khối u nhỏ, khu trú hoặc bệnh nhân không thể phẫu thuật.
- Như bác sĩ nhận định phương pháp này giúp giảm mức độ xâm lấn, rút ngắn thời gian hồi phục và có thể giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân. Với thực trạng bệnh nhân ung bướu luôn ở mức cao tại các bệnh viện lớn, bác sĩ đánh giá thế nào về tiềm năng giảm tải áp lực giường bệnh nếu kĩ thuật này được triển khai một cách rộng rãi?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Nếu kĩ thuật cryoablation được triển khai áp dụng đúng đối tượng bệnh nhân, nó hoàn toàn có thể góp phần làm giảm tải một cách đáng kể cho các trung tâm ung bướu hiện nay. Khi người bệnh có khả năng hồi phục nhanh chóng hơn và thời gian nằm viện được rút ngắn lại, họ sẽ ít phải trải qua quá trình chăm sóc hậu phẫu phức tạp, từ đó trực tiếp làm tăng khả năng luân chuyển giường bệnh và đồng thời giảm bớt gánh nặng chi phí điều trị cho cả gia đình lẫn xã hội.
Tuy nhiên, hiệu quả giảm tải này không thể đạt được một cách đơn giản mà sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố then chốt. Đầu tiên là yêu cầu về hệ thống trang thiết bị hiện đại phải được đầu tư đồng bộ. Thứ hai là phải có đội ngũ bác sĩ chuyên khoa điện quang can thiệp và ngoại khoa được đào tạo bài bản. Kế đến là cần có sự hỗ trợ của hệ thống gây mê và hồi sức chất lượng cao. Cuối cùng là phải xây dựng được một quy trình lựa chọn bệnh nhân thật sự phù hợp và chặt chẽ.
Do đó, đây là giải pháp bổ sung rất tiềm năng nhưng không thể thay thế hoàn toàn các phương pháp điều trị hiện nay.
Cryoablation không phải là phương pháp thay thế hoàn toàn phẫu thuật
- Việc hình thành một "quả cầu băng" bao quanh vùng tổn thương đòi hỏi độ chính xác vô cùng cao. Làm thế nào các bác sĩ phẫu thuật hoặc bác sĩ điện quang can thiệp có thể kiểm soát được ranh giới của "quả cầu băng" này để đảm bảo tiêu diệt trọn vẹn khối u mà không làm tổn thương các mô lành và mạch máu xung quanh?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Khả năng kiểm soát ranh giới chính xác tuyệt đối này chính là điểm mạnh lớn nhất của kĩ thuật cryoablation. Trong suốt quá trình can thiệp thủ thuật, các y bác sĩ sẽ sử dụng hệ thống máy CT, siêu âm hoặc MRI để có thể theo dõi trực tiếp sự phát triển lớn dần của “quả cầu băng”. Ranh giới của quả cầu này hiển thị và nhìn thấy khá rõ trên các thiết bị hình ảnh, giúp cho bác sĩ dễ dàng điều chỉnh vị trí đặt kim, số lượng kim cần dùng, thời gian đông lạnh cũng như chu kì đông và rã đông theo thời gian thực một cách vô cùng chuẩn xác.
Thông thường, bác sĩ sẽ tạo “quả cầu băng” bao phủ toàn bộ khối u và thêm khoảng 5–10 mm mô lành xung quanh nhằm đảm bảo diện cắt an toàn tương tự nguyên tắc trong phẫu thuật.
Đối với các cấu trúc quan trọng như ruột, niệu quản, thần kinh hoặc da, có thể sử dụng các kĩ thuật bảo vệ như bơm nước muối (hydrodissection), bơm khí hoặc CO₂ để tạo khoảng cách an toàn giữa khối u và cơ quan lành.
Riêng các mạch máu lớn thường có hiện tượng “heat sink” (ở đây là dòng máu làm giảm hiệu quả làm lạnh), vì vậy bác sĩ cần tính toán kĩ khi lập kế hoạch điều trị.
- Phương pháp này được xem là một hướng tiếp cận đầy triển vọng trong các liệu pháp điều trị ung thư mới. Đối với kĩ thuật cryoablation, mục tiêu điều trị thường hướng tới việc chữa khỏi hoàn toàn mang tính triệt căn hay chủ yếu mang tính chất giảm nhẹ, kiểm soát sự phát triển của khối u cho những bệnh nhân không đủ điều kiện phẫu thuật?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Điều này phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và loại ung thư. Ở những bệnh nhân có khối u nhỏ, khu trú, chưa di căn, cryoablation có thể mang mục tiêu triệt căn, với hiệu quả điều trị tại chỗ rất cao nếu lựa chọn đúng chỉ định. Phương pháp này đã được ứng dụng trong một số trường hợp ung thư thận, gan, phổi, tuyến tiền liệt, vú và di căn xương.
Trong khi đó, ở bệnh nhân ung thư tiến triển hoặc di căn, mục tiêu chủ yếu là kiểm soát tại chỗ, giảm đau, giảm chèn ép, bảo tồn chức năng cơ quan và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cryoablation cũng có thể phối hợp với hóa trị, xạ trị, điều trị đích hoặc miễn dịch để tối ưu hiệu quả điều trị đa mô thức.
Có thể nói, cryoablation không phải là phương pháp thay thế hoàn toàn phẫu thuật hay các liệu pháp toàn thân, mà là một công cụ rất giá trị trong điều trị cá thể hóa. Với sự phát triển của điện quang can thiệp và ung bướu hiện đại, kĩ thuật này được kì vọng sẽ ngày càng có vai trò lớn hơn trong điều trị nhiều loại ung thư, đặc biệt khi kết hợp với liệu pháp miễn dịch nhằm tăng cường đáp ứng chống ung thư của cơ thể.
- Đối với các bệnh nhân có khối u tại gan, thận hay đại trực tràng, tiêu chuẩn y khoa nào để một bệnh nhân tại Việt Nam được ưu tiên chỉ định điều trị bằng phương pháp đông lạnh này thay vì hóa trị, xạ trị hay phẫu thuật mở truyền thống, thưa bác sĩ?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Nguyên tắc quan trọng nhất cần ghi nhớ là cryoablation không sinh ra để cạnh tranh với các phương pháp điều trị chuẩn mực mà nó là một lựa chọn sáng giá trong tổng thể chiến lược điều trị đa mô thức. Việc ra quyết định lựa chọn phương pháp can thiệp nào bắt buộc phải được thông qua Hội đồng đa chuyên khoa (Multidisciplinary Team - MDT) để tiến hành cân nhắc dựa trên đặc thù của từng trường hợp người bệnh cụ thể.
Nhìn chung, những bệnh nhân được đánh giá là phù hợp nhất với kĩ thuật cryoablation thường sở hữu khối u có kích thước nhỏ, thông thường là dưới 3 đến 5 cm tùy thuộc vào từng loại ung thư và vị trí tổn thương. Thêm vào đó, số lượng các tổn thương phải ở mức hạn chế và chưa xuất hiện tình trạng di căn lan tràn. Khối u cần nằm ở những vị trí mà đầu dò có thể tiếp cận một cách an toàn dưới sự hướng dẫn của hệ thống CT hoặc máy siêu âm.
Kĩ thuật này cũng đặc biệt ưu tiên cho những người bệnh có nguy cơ gặp rủi ro phẫu thuật cao do nguyên nhân tuổi tác đã lớn, mắc các bệnh lí nền về tim mạch, hô hấp hoặc đang bị suy giảm nghiêm trọng chức năng gan, thận. Ngoài ra, những bệnh nhân đã từng trải qua phẫu thuật hoặc xạ trị trước đó và hiện không còn phù hợp để can thiệp thêm lần nữa cũng là đối tượng ưu tiên. Trong một số trường hợp có tình trạng di căn gan hoặc phổi nhưng với số lượng ít (oligometastasis), kĩ thuật này có thể được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tình trạng bệnh lâu dài.
Để lấy ví dụ cụ thể, ở ung thư gan giai đoạn rất sớm, phẫu thuật cắt gan hoặc ghép gan vẫn là lựa chọn ưu tiên nếu người bệnh đủ điều kiện. Cryoablation được cân nhắc khi bệnh nhân không thể phẫu thuật hoặc cần bảo tồn tối đa nhu mô gan. Tương tự, ở ung thư thận giai đoạn sớm, phương pháp này là lựa chọn tốt cho các khối u nhỏ ở người có nguy cơ phẫu thuật cao. Đối với ung thư đại trực tràng, cryoablation hiện chủ yếu được áp dụng cho các tổn thương di căn ở gan hoặc phổi trong những trường hợp được lựa chọn kĩ.
Cryoablation là một kĩ thuật y khoa hiện đại đòi hỏi sự phối hợp cực kì đồng bộ giữa hệ thống trang thiết bị tiên tiến và đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản. Ảnh minh họa
“
Nếu có thêm bằng chứng khoa học, chính sách đầu tư phù hợp và cơ chế bảo hiểm thuận lợi, cryoablation hoàn toàn có thể trở thành một lựa chọn điều trị tiêu chuẩn cho một số nhóm bệnh nhân được chọn lọc, góp phần mở rộng điều trị cá thể hóa và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh ung thư.
ThS.BS Nguyễn Hữu Huy
Việt Nam cần làm gì để đưa kĩ thuật này đến với bệnh nhân ung thư trong nước?
- Để có thể triển khai thành công kĩ thuật sử dụng đầu dò chuyên dụng tạo nhiệt độ cực thấp này, hệ thống y tế tại Việt Nam cần đầu tư những nền tảng hạ tầng và trang thiết bị hỗ trợ chuyên sâu nào, thưa bác sĩ?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Cryoablation là một kĩ thuật y khoa hiện đại đòi hỏi sự phối hợp cực kì đồng bộ giữa hệ thống trang thiết bị tiên tiến và đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản. Về khía cạnh nền tảng hạ tầng, các cơ sở y tế bắt buộc phải có hệ thống máy cryoablation đi kèm với nguồn khí argon và khí helium cùng với các loại đầu dò chuyên dụng. Cùng với đó là yêu cầu về một phòng can thiệp phải đạt tiêu chuẩn vô khuẩn nghiêm ngặt.
Để đảm bảo độ chính xác, không thể thiếu hệ thống hướng dẫn hình ảnh có độ phân giải cao chẳng hạn như máy chụp CT hay các thiết bị siêu âm can thiệp; hệ thống máy MRI cũng có thể được đưa vào sử dụng tại một số trung tâm y tế nhưng hiện tại vẫn chưa thực sự phổ biến. Ngoài ra, việc trang bị đầy đủ hệ thống gây mê, hồi sức và các thiết bị theo dõi sinh hiệu người bệnh trong và sau khi thực hiện thủ thuật là điều kiện bắt buộc. Tất cả những trang thiết bị này phải được vận hành trơn tru thông qua một quy trình phối hợp nhịp nhàng giữa các bác sĩ chuyên khoa điện quang can thiệp, ngoại khoa, ung bướu, gây mê và giải phẫu bệnh.
- Vậy còn nhân lực chuyên môn, việc đào tạo một bác sĩ có đủ khả năng thực hiện kĩ thuật đông lạnh khối u này sẽ mất khoảng bao nhiêu thời gian và yêu cầu nền tảng ban đầu như thế nào?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Về nhân lực, các bác sĩ điện quang can thiệp đã có kinh nghiệm với đốt sóng cao tần (RFA) hoặc vi sóng (MWA) sẽ có lợi thế khi tiếp cận kĩ thuật này. Tuy nhiên, để thực hiện độc lập cần được đào tạo chuyên sâu về lựa chọn bệnh nhân, lập kế hoạch điều trị, kĩ thuật đặt kim và xử trí biến chứng.
Nếu được đào tạo liên tục tại các trung tâm có kinh nghiệm trong và ngoài nước, bác sĩ có nền tảng can thiệp tốt thường cần khoảng 6–12 tháng để thành thạo kĩ thuật. Quan trọng hơn là cần xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa và tích lũy số lượng ca lâm sàng đủ lớn để đảm bảo chất lượng điều trị.
- Dưới góc nhìn của một chuyên gia trong lĩnh vực ung bướu, bác sĩ nhận định rào cản lớn nhất để đưa kĩ thuật đông lạnh khối u trở thành một phương pháp điều trị thường quy tại Việt Nam trong vòng 5 đến 10 năm tới là gì?
- ThS.BS Nguyễn Hữu Huy: Theo tôi, thách thức không chỉ nằm ở một yếu tố mà là sự kết hợp của nhiều vấn đề.
Thứ nhất là chi phí đầu tư ban đầu. Hệ thống cryoablation, nguồn khí chuyên dụng và đầu dò tiêu hao có giá thành khá cao, trong khi số lượng bệnh nhân phù hợp với chỉ định chưa đủ lớn để nhiều cơ sở y tế mạnh dạn đầu tư.
Thứ hai là nguồn nhân lực chuyên sâu. Đây là kĩ thuật có đường cong học tập tương đối dài và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chuyên khoa. Việc đào tạo đội ngũ đủ năng lực cần thời gian và sự đầu tư có hệ thống.
Thứ ba là bằng chứng khoa học và hướng dẫn điều trị. Mặc dù cryoablation đã được chứng minh hiệu quả ở nhiều loại ung thư và đã có mặt trong một số khuyến cáo quốc tế đối với các chỉ định chọn lọc, vẫn cần thêm các nghiên cứu đối chứng quy mô lớn để xác định rõ vai trò so với các phương pháp khác ở từng nhóm bệnh nhân.
Cuối cùng là cơ chế thanh toán của bảo hiểm y tế. Nếu kĩ thuật chưa được đưa vào danh mục chi trả hoặc mức thanh toán còn hạn chế, nhiều người bệnh sẽ khó tiếp cận vì chi phí điều trị còn cao. Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định khả năng triển khai rộng rãi tại Việt Nam.
Tuy nhiên, tôi vẫn lạc quan về triển vọng trong 5–10 năm tới. Việt Nam hiện đã phát triển mạnh các lĩnh vực điện quang can thiệp, RFA, MWA, TACE và nhiều kĩ thuật xâm lấn tối thiểu khác. Nếu có thêm bằng chứng khoa học, chính sách đầu tư phù hợp và cơ chế bảo hiểm thuận lợi, cryoablation hoàn toàn có thể trở thành một lựa chọn điều trị tiêu chuẩn cho một số nhóm bệnh nhân được chọn lọc, góp phần mở rộng điều trị cá thể hóa và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh ung thư.
- Xin cảm ơn ThS.BS Nguyễn Hữu Huy về những chia sẻ vô cùng chuyên sâu và có giá trị khoa học cao!
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.