Dược liệu Tây Nguyên: Trồng nhiều chưa chắc lãi, đầu ra mới là lời giải
Cả nước có khoảng 92.000 ha dược liệu, nhưng hiệu quả kinh tế và giá trị xuất khẩu chưa tương xứng với lợi thế. Tại diễn đàn về nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu Tây Nguyên (Gia Lai, 23/10), cơ quan quản lý, ngân hàng và doanh nghiệp cùng chỉ ra ba điều kiện để vùng trồng bền vững khi đạt tiêu chuẩn, có vốn và có đầu ra ổn định.
Dược liệu Tây Nguyên: Nhiều diện tích, ít cây quý
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết hiệu quả kinh tế và giá trị xuất khẩu của dược liệu chưa tương xứng với lợi thế. Năm 2025, diện tích dược liệu cả nước giảm so với năm 2024, chủ yếu do cây hồi thu hẹp. Trong khoảng 92.000 ha dược liệu, riêng cây hồi chiếm 44.000 ha.

Điểm sáng là diện tích trồng sâm tăng gấp đôi, cho thấy xu hướng chuyển sang loại có giá trị cao. Trong 5 năm qua, gần 100 giống dược liệu đã được đăng ký sản xuất và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Theo ông Mạnh, các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy ngành cần chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng chất lượng, chuẩn hóa quy trình và đẩy mạnh chế biến sâu.

Tại Tây Nguyên, theo bà Đoàn Hương Sơn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, ba tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng có khoảng 6.168 ha dược liệu. Cây ngắn ngày chiếm 89,9%, tương đương 5.543 ha. Cây dài ngày chỉ khoảng 625 ha. Phần lớn là cây gia vị, dược liệu phổ thông có giá trị thấp. Dược liệu quý còn ít và phân tán. Nguồn giống chưa chuẩn hóa, chất lượng không đồng đều. Vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn thực hành trồng trọt và thu hái tốt của Tổ chức Y tế Thế giới (GACP-WHO) còn thiếu.
Ông Hoàng Mạnh Ngọc, Phó Chủ tịch VCAC, chia sẻ kinh nghiệm từ miền núi phía Bắc. Theo ông, phát triển dược liệu cần gắn với bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu nhân giống và chọn vùng trồng phù hợp, tránh khai thác tận thu. Ngành này còn khó khăn về vốn, hạ tầng, công nghệ và thị trường. Cây sinh trưởng lâu nên thu hồi vốn chậm. Vì vậy cần chiến lược riêng cho từng vùng sinh thái, cùng hỗ trợ về đất đai, tín dụng dài hạn, công nghệ và thị trường.
Rào cản tiêu chuẩn khi xuất khẩu
Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc điều hành Văn phòng SPS Việt Nam, cho biết sản phẩm dược liệu, nhất là thực phẩm bảo vệ sức khỏe, phải đáp ứng quy định chặt chẽ về an toàn thực phẩm, kiểm dịch và kỹ thuật của nước nhập khẩu.
Văn phòng SPS là đầu mối hướng dẫn doanh nghiệp về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật. Dù Trung Quốc đã mở cửa cho nhiều nhóm nông sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm có nguồn gốc dược liệu vẫn chưa khai thác hết cơ hội.
Trong hơn 4.000 sản phẩm và cơ sở chế biến nông, thủy sản của Việt Nam được phía Trung Quốc chấp thuận, chưa có sản phẩm chế biến từ dược liệu thuộc nhóm quản lý của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế). Ông Nam coi đây là khoảng trống cần sớm tháo gỡ.
Việt Nam đã tham gia 18 hiệp định thương mại tự do. Dự kiến sẽ có hơn 20 hiệp định, mở cơ hội xuất khẩu nông sản, thực phẩm tới hơn 60 thị trường trọng điểm. Tuy vậy, ngành dược liệu chưa tận dụng tốt các ưu đãi này khi yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao.
Ông Nam khuyên doanh nghiệp chủ động tìm hiểu quy định của từng thị trường và phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành. Đơn vị định sản xuất bia từ dược liệu có thể liên hệ Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).
Với dược liệu tươi, nguyên liệu thô và thực phẩm bảo vệ sức khỏe, doanh nghiệp có thể nhờ hỗ trợ từ các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế và Bộ Công Thương.

Cả 34 tỉnh, thành đều có đầu mối giải đáp về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật. Doanh nghiệp, hợp tác xã có thể liên hệ Sở Nông nghiệp và Môi trường địa phương hoặc Văn phòng SPS Việt Nam.
Vốn có, nhưng không phải dự án nào cũng vay được
Ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách - tín dụng Agribank, cho biết dư nợ của ngân hàng tại Tây Nguyên đạt 175.000 tỷ đồng. Trong đó 148.000 tỷ đồng, tương đương 84%, dành cho nông nghiệp, nông thôn.
Theo Đại diện Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Agribank, người vay quan tâm nhất hai vấn đề: tài sản bảo đảm và lãi suất. Chính sách hiện hành cho phép một số nhóm trong nông nghiệp, nông thôn vay từ 300 triệu đến 5 tỷ đồng không cần tài sản bảo đảm.
Với doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ hoặc tham gia liên kết sản xuất, mức vay không cần tài sản bảo đảm có thể đạt 70-80% giá trị dự án theo quy định. Gói tín dụng 50.000 tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sạch có lãi suất thấp hơn thông thường 0,5-2 điểm phần trăm/năm.
Tuy nhiên, có chính sách hỗ trợ vốn không đồng nghĩa mọi dự án đều được vay. Ngân hàng phải đánh giá tính khả thi và khả năng trả nợ để kiểm soát rủi ro. Agribank nêu bốn khó khăn. Trong đó nhấn mạnh các vấn đề về: Pháp lý đất đai, đất rừng chưa rõ ràng; Chu kỳ đầu tư dược liệu kéo dài; Thị trường tiêu thụ và liên kết sản xuất chưa ổn định; và năng lực quản lý, tổ chức dự án còn hạn chế.
Với cây giá trị cao như sâm Ngọc Linh, thời gian đầu tư dài và chi phí chăm sóc lớn đòi hỏi phương án cho vay phù hợp chu kỳ sản xuất. Agribank nhấn mạnh giá trị cao của cây trồng chưa chắc đem lại hiệu quả tài chính nếu thiếu đầu ra ổn định.
Ngân hàng đề nghị địa phương hoàn thiện quy hoạch vùng trồng, hướng dẫn thủ tục đất đai, đất rừng và giới thiệu dự án có pháp lý rõ ràng, nhu cầu vốn cụ thể. Doanh nghiệp, hợp tác xã cần nâng năng lực quản lý, xây dựng phương án khả thi, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Agribank sẽ chỉ đạo các chi nhánh tại Tây Nguyên chủ động tiếp cận doanh nghiệp ngay từ giai đoạn xây dựng dự án.

Ký hợp đồng liên kết để giảm rủi ro
Ông Phan Thanh Thiên, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh, cho biết doanh nghiệp cần tiêu thụ hàng nghìn tấn dược liệu mỗi năm. Nguyên liệu dùng làm thuốc y học cổ truyền, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các sản phẩm khác. Doanh nghiệp sẵn sàng liên kết với hợp tác xã, người dân có vùng trồng tại Gia Lai.
Doanh nghiệp sẽ chọn loại dược liệu có sản lượng lớn, hợp điều kiện canh tác địa phương và nhu cầu sử dụng. Với đơn vị chưa có đất, doanh nghiệp có thể xem xét cho tham gia canh tác trên diện tích thuộc các dự án được giao, gắn với cam kết mua sản phẩm. Về tiêu chuẩn, doanh nghiệp ưu tiên vùng trồng đạt GACP và tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMP) khi làm thuốc y học cổ truyền. Theo ông Thiên, chứng nhận chưa đủ. Chất lượng, khả năng kiểm soát vùng trồng và hàm lượng hoạt chất trong từng loại dược liệu mới quan trọng. Dược liệu nhập khẩu có thể rẻ hơn, nên sản phẩm Gia Lai phải cạnh tranh bằng chất lượng và nguồn gốc rõ ràng. Doanh nghiệp cũng đang đầu tư thêm nhà máy sản xuất cao chiết từ dược liệu.
Ông Có nhấn mạnh “liên kết thị trường gắn vùng trồng với đầu ra”. Theo ông, nếu mở rộng vùng trồng mà chưa biết bán cho ai, người dân sẽ gặp khó. Hợp tác xã, người dân và doanh nghiệp thu mua nên ký hợp đồng liên kết theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP, ghi rõ giá mua tối thiểu. Khi giá thị trường tăng, các bên có thể mua bán theo giá thị trường. Cách làm này giúp người sản xuất có đầu ra và giảm rủi ro về giá.
Đến năm 2030, Gia Lai hướng tới khoảng 10.000 ha dược liệu. Tỉnh đang đẩy mạnh các loại như mật nhân, hà thủ ô đỏ, cát cánh, cà gai leo và sâm đương quy. Ông Có cảnh báo phát triển ồ ạt khi chưa có đầu ra ổn định dễ gây dư thừa, ảnh hưởng thu nhập người dân. Vì vậy doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ.
Làm thí điểm và chế biến sâu

PGS.TS Đỗ Thị Hà, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu (Bộ Y tế), cho rằng ngành cần chuỗi đồng bộ từ giống, canh tác, thu hái, bảo quản đến chế biến sâu và tiêu thụ. Nghiên cứu phải gắn với nhu cầu thực tế để tạo ra quy trình có thể chuyển giao và làm ở quy mô thương mại. Bà đề xuất xây dựng các chuỗi thí điểm có doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu, gắn nghiên cứu với sản xuất thử, chuyển giao công nghệ và cam kết mua sản phẩm.
Ở khâu chế biến, bà cho rằng cần chuyển từ bán nguyên liệu thô sang sản phẩm có giá trị cao hơn như cao chiết chuẩn hóa, tinh dầu và thành phẩm. Với sâm Việt Nam, có thể nghiên cứu công nghệ hấp, sấy, chiết xuất, lên men và bào chế. Mỗi giải pháp cần đánh giá về hiệu suất, chất lượng, độ an toàn và hiệu quả kinh tế. Theo bà, hiệu quả cuối cùng phải đo bằng tỷ lệ nguyên liệu đạt chuẩn, sản phẩm được doanh nghiệp tiếp nhận, giá trị tăng thêm và thu nhập của người trồng.
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng Tây Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển dược liệu. Sản phẩm có thể dùng trong thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp và tiêu dùng, hướng tới cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Do liên quan nhiều lĩnh vực quản lý, ngành này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan để hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Ông đề nghị doanh nghiệp, nhà đầu tư chuẩn bị dự án khả thi, tăng liên kết với địa phương, hợp tác xã và người dân, đồng thời đầu tư chiều sâu vào công nghệ để bảo đảm chất lượng, an toàn sản phẩm.



