Cà Mau phát triển năng lượng tái tạo, Cần Thơ thúc đẩy chế biến sâu nông thủy sản
Cà Mau định hướng xây dựng trung tâm năng lượng tái tạo dựa trên tiềm năng điện gió, điện mặt trời và hạ tầng logistics. Trong khi đó, Cần Thơ đặt mục tiêu trở thành đầu mối liên kết sản xuất, chế biến sâu nông thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung tháo gỡ những hạn chế về công nghệ, kho lạnh và liên kết tiêu thụ.
Cà Mau hướng đến trung tâm năng lượng tái tạo
Tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026 diễn ra ngày 22/10, Cà Mau trình bày định hướng xây dựng trung tâm năng lượng tái tạo, gắn phát triển nguồn điện với công nghiệp phụ trợ, logistics và các ngành năng lượng mới.

Sau khi hợp nhất với Bạc Liêu, Cà Mau có diện tích gần 7.942 km², dân số trên 2,6 triệu người, đường bờ biển khoảng 310 km và vùng biển rộng khoảng 120.000 km². Theo tham luận, tiềm năng điện gió ngoài khơi của tỉnh được ước tính khoảng 20.000 MW; tiềm năng điện gió trên bờ, gần bờ và điện mặt trời khoảng 4.950–11.450 MW, tùy phương án khai thác.
Khu vực Cà Mau và Bạc Liêu trước đây có 694,2 MW điện gió đang vận hành. Trong năm 2026, dự kiến có thêm 300 MW điện gió đi vào hoạt động.
Trên cơ sở này, tỉnh định hướng phát triển hệ sinh thái gồm điện gió, điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, hydrogen xanh, amoniac xanh và công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng. Địa phương cũng đặt mục tiêu phát triển các dịch vụ khảo sát, vận hành, bảo dưỡng công trình điện gió ngoài khơi, cơ khí, kết cấu, dịch vụ hàng hải và logistics phục vụ ngành năng lượng.
Cà Mau xác định việc phát triển nguồn điện cần đi cùng hạ tầng truyền tải và khả năng tiếp nhận công suất. Các giải pháp được đề cập gồm đầu tư hệ thống pin lưu trữ, nâng cao năng lực điều độ, quản lý phụ tải và phát triển lưới điện thông minh nhằm tăng khả năng hấp thụ nguồn điện tái tạo.
Đối với hydrogen xanh và amoniac xanh, tỉnh định hướng thu hút doanh nghiệp có năng lực công nghệ, tài chính và thị trường để nghiên cứu, triển khai dự án. Đây cũng là hướng kết nối năng lượng tái tạo với công nghiệp, vận tải, cảng biển và xuất khẩu.
Hạ tầng cảng biển được xác định là một phần trong chuỗi phát triển năng lượng. Cà Mau kỳ vọng cảng biển Hòn Khoai cùng hệ thống giao thông kết nối sẽ hỗ trợ vận chuyển thiết bị, cung ứng dịch vụ và phát triển logistics cho các dự án năng lượng ngoài khơi.
Để triển khai định hướng, tỉnh kiến nghị hoàn thiện cơ chế phát triển điện gió ngoài khơi, cơ chế đầu tư lưới truyền tải và xuất khẩu điện; bổ sung các dự án nguồn, lưới điện vào quy hoạch ngành quốc gia. Tỉnh cũng đề xuất đầu tư hạ tầng truyền tải 220 kV, 500 kV, công trình đấu nối, cảng biển và giao thông kết nối.
Các kiến nghị khác tập trung vào việc tạo điều kiện tiếp cận vốn xanh, vốn khí hậu, thu hút đầu tư công nghiệp phụ trợ và đào tạo nhân lực. Đồng thời, tỉnh đặt yêu cầu bảo vệ môi trường biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn và sinh kế người dân trong quá trình triển khai dự án.
Cần Thơ tập trung nâng giá trị nông thủy sản qua chế biến sâu
Cũng tại hội nghị, Cần Thơ trình bày định hướng xây dựng trung tâm liên kết, sản xuất và chế biến sâu nông thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Sau khi hợp nhất với Sóc Trăng và Hậu Giang từ ngày 1/7/2025, thành phố có không gian phát triển gồm vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản nước ngọt, vùng lợ – mặn ven biển và hệ thống công nghiệp, giao thông, logistics.

Năm 2025, sản lượng lúa của thành phố đạt 4.655,8 nghìn tấn, sản lượng thủy sản đạt 781,5 nghìn tấn. Đến năm 2030, thành phố quy hoạch 35 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 2.083 ha, ưu tiên chế biến nông, thủy sản. Khu công nghiệp VSIP Cần Thơ giai đoạn 1 có quy mô hơn 297 ha.
Về logistics, thành phố hiện có 3 trung tâm đang hoạt động và dự kiến phát triển lên 11 trung tâm vào năm 2030. Trung tâm logistics hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ được quy hoạch khoảng 100 ha. Cùng với đó, cảng biển Trần Đề và các tuyến cao tốc CT.01, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng được xác định là những hạ tầng kết nối quan trọng phục vụ vận chuyển và xuất khẩu.
Trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến thực phẩm tăng 12,1%; riêng quý III tăng 18,1%. Giá trị tăng thêm của ngành chế biến thực phẩm tăng 11,49%.
Sản lượng gạo xát trong 9 tháng đạt 4,32 triệu tấn, cao hơn sản lượng lúa tại chỗ khoảng 4,06 triệu tấn. Theo tham luận, số liệu này cho thấy các cơ sở chế biến của thành phố tiếp nhận nguyên liệu từ những tỉnh lân cận, thể hiện vai trò đầu mối chế biến lúa gạo của vùng.
Cần Thơ hiện có 665 mã số vùng trồng và 49 mã số cơ sở đóng gói. Trong 9 tháng năm 2026, thành phố hỗ trợ liên kết tiêu thụ, xuất khẩu 19.838 tấn nông sản. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 75,78% kế hoạch năm; mục tiêu năm 2026 là 6.060 triệu USD. Gạo và thủy sản là những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, với các thị trường như Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và ASEAN.
Tuy nhiên, chế biến sâu vẫn là điểm hạn chế. Theo tham luận, sản phẩm có giá trị gia tăng cao như thực phẩm chế biến sẵn, thủy sản đóng hộp, collagen và dầu cám gạo còn chiếm quy mô nhỏ. Sản lượng thủy hải sản đóng hộp chỉ bằng khoảng 4% sản lượng phi lê đông lạnh. Các phụ phẩm như rơm rạ, trấu, da, vảy và đầu tôm cũng chưa được tận dụng đầy đủ theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Áp lực tiêu thụ thể hiện qua chỉ số tồn kho ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tháng 9/2026 tăng 30,8% so với cùng kỳ. Trong khi đó, liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ chưa bền vững; tình trạng phá vỡ hợp đồng bao tiêu khi giá biến động vẫn xảy ra, vai trò hợp tác xã còn hạn chế. Hạ tầng logistics, kho lạnh chưa đáp ứng yêu cầu, hàng xuất khẩu vẫn phải trung chuyển qua các cảng ở Đông Nam Bộ.
Cần Thơ cũng chỉ ra khó khăn của doanh nghiệp chế biến trong tiếp cận vốn đổi mới công nghệ. Việc các địa phương phát triển những loại hình chế biến tương tự, thiếu cơ chế điều phối chung và chưa phân định rõ vai trò trong chuỗi cung ứng khiến liên kết vùng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả.
Để khắc phục, thành phố đề xuất phân công vai trò giữa các địa phương. Cần Thơ tập trung vào chế biến sâu, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, logistics, kho lạnh, thương mại, kiểm định và xúc tiến thương mại. An Giang được định hướng phát triển thủy sản nước ngọt, trái cây và lúa gạo; Cà Mau tập trung thủy sản ven biển, năng lượng và dịch vụ dầu khí; Đồng Tháp phát triển chế biến xanh, chuỗi giá trị tuần hoàn; Vĩnh Long đảm nhận vai trò phân phối và chuỗi cung ứng. TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh là các địa bàn kết nối thị trường, tài chính, cảng và cửa ngõ xuất khẩu.
Đến năm 2030, Cần Thơ đặt mục tiêu đưa tỷ trọng công nghiệp lên hơn 29% GRDP, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống dưới 16%; đồng thời nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, tăng tiêu thụ qua hợp đồng liên kết và phát triển trung tâm logistics hạng I cấp vùng cùng chợ đầu mối.
Thành phố kiến nghị hỗ trợ phát triển trung tâm logistics vùng, trung tâm chế biến hiện đại gắn với kho lạnh và chợ đầu mối; ưu tiên nguồn lực cho xúc tiến thương mại liên vùng, đầu tư giao thông kết nối, cảng biển Trần Đề và luồng cho tàu biển vào sông Hậu. Thành phố cũng đề xuất xem xét các gói tín dụng ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư kho lạnh, đổi mới công nghệ chế biến.
Trong hai định hướng được trình bày tại hội nghị, Cà Mau tập trung mở rộng chuỗi giá trị năng lượng tái tạo, còn Cần Thơ hướng đến nâng giá trị nông thủy sản thông qua chế biến sâu và logistics. Cả hai địa phương đều kiến nghị tăng cường đầu tư hạ tầng, hoàn thiện cơ chế và thúc đẩy phối hợp liên vùng để triển khai các mục tiêu phát triển.