Hai lĩnh vực Mỹ đặt tham vọng cao hơn AI trong chiến lược quân sự mới
Nhà Trắng vừa xác lập thứ tự ưu tiên cho khoa học và công nghệ phục vụ an ninh quốc gia trong tài liệu 24 trang.
Ba lĩnh vực được Nhà Trắng đặt lên hàng đầu là tác chiến dưới biển, vũ trụ, cùng AI và hệ thống tự chủ. Tuy nhiên, mức tham vọng dành cho AI thấp hơn hai lĩnh vực còn lại.
Chiến lược Khoa học và Công nghệ An ninh Quốc gia (NSSTS), do Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng (OSTP) công bố ngày 17/8, được xây dựng theo yêu cầu của Điều 10612 trong Đạo luật CHIPS và Khoa học, trong đó yêu cầu một chiến lược khoa học - công nghệ sau mỗi bản Chiến lược An ninh Quốc gia.
Tàu ngầm, vệ tinh hay AI đều không phải công nghệ mới trong quân đội Mỹ. Điều đáng chú ý là lần này Washington đưa cả ba vào nhóm ưu tiên cao nhất, nhưng đặt ra hai mức tham vọng khác nhau: dưới biển và vũ trụ phải đạt ưu thế công nghệ rõ rệt, còn AI và hệ thống tự chủ chỉ cần duy trì lợi thế cạnh tranh.
Ba lĩnh vực hàng đầu nhưng không cùng một đích đến
Với lĩnh vực dưới biển, Mỹ đặt mục tiêu ưu thế công nghệ rõ rệt, phạm vi gồm khả năng sống sót của tàu ngầm và tác chiến chống ngầm. Với vũ trụ, mục tiêu cũng là ưu thế công nghệ rõ rệt, đi kèm khả năng phát hiện, xác định đặc tính và đối phó với các mối đe dọa nhắm vào lợi ích không gian của Mỹ, trải từ quỹ đạo Trái Đất rất thấp tới không gian cận Mặt Trăng. Nhưng với AI và tự chủ, tài liệu chỉ viết là lợi thế cạnh tranh. Breaking Defense gọi đây là một sắc thái đáng lưu ý trong thang ưu tiên bốn tầng mà chiến lược dựng lên.
Ngay dưới nhóm ưu tiên là ba năng lực vẫn được coi là then chốt, gồm ưu thế trên không nhờ tàng hình và tác chiến điện tử, khả năng tấn công tầm xa xuyên các lớp phòng thủ nhiều tầng, và cụm C5ISR - tức hệ thống chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, không gian mạng, tình báo, giám sát và trinh sát. Tầng thứ ba là 12 công nghệ nền, từ vật liệu và chế tạo tiên tiến, năng lượng định hướng, siêu vượt âm cho tới bán dẫn, điện hạt nhân và định vị dẫn đường thời gian. Tầng cuối dành cho những công nghệ có thể mang tính chuyển hóa mà hệ quả còn chưa rõ, gồm AI ở ngưỡng trí tuệ nhân tạo tổng quát, công nghệ sinh học và thông tin lượng tử.
Chiến lược cũng từ chối chọn giữa vũ khí đắt tiền và hệ thống rẻ sản xuất số lượng lớn. Nguyên văn nói Mỹ sẽ tìm những tổ hợp tối ưu giữa nền tảng giá thấp triển khai số lượng lớn và số ít nền tảng tinh vi, đồng thời không phản xạ sao chép hệ thống tấn công của đối thủ ở nơi mà lợi thế công nghệ Mỹ đã cho sẵn một phương án phòng thủ rẻ hơn. Breaking Defense nhận xét tài liệu ủng hộ làn sóng hệ thống chi phí thấp có thể phát triển và triển khai nhanh mà Lầu Năm Góc đang theo đuổi, đặc biệt là phương tiện không người lái chấp nhận tổn thất, nhưng vẫn giữ vai trò cho các đại chương trình đắt tiền theo lối cũ.
Dưới biển, cuộc đua giữa ẩn mình và phát hiện
Việc NSSTS đặt khả năng sống sót của tàu ngầm cạnh tác chiến chống ngầm phản ánh hai mặt của cùng một bài toán. Mỹ vừa phải làm lực lượng của mình khó bị tìm thấy hơn, vừa phải nâng khả năng tìm ra tàu ngầm đối phương. Nếu cán cân giữa hai vế đổi chiều, lợi thế chiến lược dưới biển dịch chuyển rất nhanh. Đó là lí do Washington đòi ưu thế rõ rệt ở đây thay vì chỉ cạnh tranh.
Xét riêng lực lượng tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, Mỹ vẫn dẫn trước. Theo Trung tâm Nghiên cứu Mỹ thuộc Đại học Sydney (Australia), Mỹ có 71 chiếc so với 32 chiếc của Trung Quốc. Nhưng khoảng cách đó đang chịu sức ép từ hai phía. Sản lượng tàu ngầm lớp Virginia hiện chỉ đạt khoảng 1,2 đến 1,3 chiếc mỗi năm, trong khi mức Hải quân Mỹ tính là cần thiết để đáp ứng cả nhu cầu nội bộ lẫn cam kết AUKUS là 2,33 chiếc.
Nếu tính cả tàu ngầm thông thường thì bức tranh khác hẳn. Giáo sư Andrew Erickson trong bản khai trước Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ Trung hồi tháng 3/2026 cho biết hải quân Trung Quốc đã có hơn 400 tàu chiến và hơn 60 tàu ngầm, gồm một lực lượng lớn tàu diesel điện có sức chiến đấu đáng kể. Ông cũng mô tả một mạng quan sát dưới nước kiểu SOSUS mà ông gọi bằng tên “Vạn Lý Trường Thành” dưới biển, tập trung vào những hướng tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt với tàu ngầm đối phương. Trong cùng phiên điều trần, Michael Horowitz cảnh báo đầu tư của Trung Quốc vào phương tiện không người lái dưới nước có thể làm thay đổi cán cân hải quân ở Ấn Độ Dương Thái Bình Dương, một phần vì nước này ít bị ràng buộc bởi giới hạn công nghiệp quốc phòng và chấp nhận rủi ro cao hơn khi triển khai hệ thống chưa hoàn thiện.
Chiến lược phản ứng bằng công cụ liên minh, nêu rõ Mỹ đang phối hợp với Australia và Anh để mở rộng hợp tác công nghệ, khoáng sản quan trọng, dự án năng lượng và củng cố nền công nghiệp tàu ngầm. Đằng sau đó là một lập luận về cấu trúc. NSSTS lấy bộ ba hạt nhân làm ví dụ cho nguyên tắc dư thừa tối ưu, khi đối thủ muốn vô hiệu hóa răn đe của Mỹ phải cùng lúc giải ba bài toán khó gồm tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo giấu khắp đại dương, tên lửa liên lục địa rải trên lãnh thổ rộng, và máy bay ném bom trực chiến linh hoạt. Không đột phá đơn lẻ nào đánh bại được cả ba.
Vũ trụ, không chỉ nhìn thấy mà phải đối phó
Tài liệu không dừng ở chữ phát hiện. Nó yêu cầu cả xác định đặc tính và đối phó, tức mục tiêu không còn là biết chuyện gì đang xảy ra trên quỹ đạo mà là tiếp tục hoạt động khi môi trường không gian trở nên đối kháng.
Một hướng quan trọng là tăng khả năng phục hồi sau tổn thất. Chiến lược nêu phóng đáp ứng nhanh để tái lập tài sản quỹ đạo cùng năng lực xử lí rác vũ trụ trong nhóm giải pháp này. Danh mục công nghệ vũ trụ trong phụ lục gồm phóng tái sử dụng theo yêu cầu với chi phí hợp lí, nguồn điện và động cơ đẩy thế hệ mới cho tàu vũ trụ, quản lí nhiệt, tiếp cận các quỹ đạo mới, cùng khả năng lắp ráp và ghép nối ngay trên quỹ đạo. Riêng nguồn điện và động cơ đẩy hạt nhân dùng trong không gian được xếp vào nhóm năng lượng hạt nhân.
Phần phòng thủ lãnh thổ gắn với sáng kiến Vòm Vàng (Golde Dome), được liệt kê cạnh an ninh biên giới, lực lượng răn đe hạt nhân tin cậy và phòng thủ trước vũ khí sinh học.
AI, chất kết dính giữa hai ưu tiên còn lại
Khác biệt về động từ nói lên khá nhiều. AI phát triển quá nhanh, nằm chủ yếu trong tay khu vực tư nhân và lan ra thế giới với tốc độ mà không nền tảng quân sự truyền thống nào theo kịp. Hứa ưu thế rõ rệt ở lĩnh vực đó là hứa điều khó giữ.
Nhưng vai trò của nó xuyên suốt hai lĩnh vực kia. Dưới biển, thuật toán xử lí tín hiệu thủy âm và điều phối phương tiện tự hành. Trên quỹ đạo, AI phân loại khối dữ liệu lớn, theo dõi nhiều vật thể cùng lúc và quản lí những chòm vệ tinh ngày càng phức tạp. Danh mục AI trong phụ lục phản ánh đúng điều đó, gồm hợp nhất cảm biến, hệ đa tác tử và trí tuệ bầy đàn, hệ tự chủ cho mặt đất, trên không, trên biển, trong vũ trụ và trên không gian mạng, chỉ huy kiểm soát tự động, khả năng diễn giải và kiểm soát. Defense One lưu ý hệ đa tác tử và trí tuệ bầy đàn được xếp vào nhóm then chốt, gắn trực tiếp với mục tiêu răn đe ở Ấn Độ Dương Thái Bình Dương.
Cách phát triển đã được xác lập từ trước. Tháng 6, Tổng thống Mỹ Donald Trump kí bản ghi nhớ về AI trong bộ máy an ninh quốc gia, yêu cầu ưu tiên thích ứng các công nghệ AI thương mại tiên tiến cho nhiệm vụ quân sự thay vì mặc định tự phát triển mọi thứ từ đầu, đồng thời tránh hình thành phụ thuộc chiến lược.
Rào cản lớn nằm ở năng lực tính toán. Trong bài đăng trên Quỹ Carnegie ngày 10/8, Jake Steckler của GovAI cho rằng hạ tầng phục vụ AI của Ukraine từ đám mây phương Tây, trung tâm dữ liệu trong nước đến các nút tính toán tiền phương, đã bắt đầu chịu quá tải khi AI được đưa sâu hơn vào chỉ thị mục tiêu và phối hợp lực lượng. Ông dẫn số liệu cho thấy các mô hình nhận dạng vật thể chạy trên thiết bị biên có hiệu suất thấp hơn khoảng 30% so với phiên bản trong phòng thí nghiệm.
Bài toán tài chính cũng chưa ngã ngũ. Đề xuất ngân sách tài khóa 2027 dành 4,2 tỉ USD cho chương trình Hạ tầng AI Chủ quyền, nhưng khoản này vẫn phải chờ Quốc hội thông qua. Đây chỉ là một phần trong kế hoạch lớn hơn, với 46 tỉ USD đầu tư nhiều năm cho Kho vũ khí AI Chủ quyền, nằm trong tổng 58,5 tỉ USD dành cho AI và CJADC2. Phần lớn nguồn tiền này phụ thuộc vào một dự luật hòa giải ngân sách tiếp theo.
Mỹ không đặt cược vào một “siêu vũ khí”, mà muốn kết nối tàu ngầm, vệ tinh, tên lửa và hệ thống không người lái thành mạng tác chiến, buộc đối thủ phải phân tán nguồn lực. Tuy nhiên, biến chiến lược thành năng lực thực tế vẫn phụ thuộc vào quốc hội. Thứ tự ưu tiên đã rõ, nhưng những khoản đầu tư lớn vẫn phải chờ cơ quan lập pháp Mỹ quyết định.


