Hỏi - Đáp

Hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường: Không thể nằm chờ gió thuận

Hoàng Bắc (thực hiện) 22/08/2026 13:25

Trong 8 tháng đầu năm 2026, gần 39.000 doanh nghiệp TP.HCM và hơn 155.000 doanh nghiệp trên cả nước rút lui khỏi thị trường đang đặt ra những câu hỏi không thể né tránh về sức khỏe của nền kinh tế.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng - nguyên Giám đốc R&D - Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM cho rằng, gần 39.000 doanh nghiệp rút lui tại đầu tàu kinh tế TP.HCM không nên được nhìn như một chỉ số thống kê đơn thuần. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng - nguyên Giám đốc R&D - Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM cho rằng, gần 39.000 doanh nghiệp rút lui tại đầu tàu kinh tế TP.HCM không nên được nhìn như một chỉ số thống kê đơn thuần. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, Chuyên gia kinh tế (CGKT) Nguyễn Hoàng Dũng - nguyên Giám đốc R&D - Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM cho rằng, phía sau những con số tích cực về tăng trưởng, xuất khẩu và FDI vẫn là sức ép lớn đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Muốn tạo một chu kỳ tăng trưởng mới, Việt Nam cần khơi thông dòng vốn, phục hồi niềm tin kinh doanh và quan trọng hơn là tháo những “vòng kim cô” thể chế đang giữ chân nguồn lực.

Gần 39.000 doanh nghiệp rời thị trường: Đừng chỉ nhìn vào những con số tăng trưởng

-Thưa ông, 8 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Nhưng cùng lúc, gần 39.000 doanh nghiệp tại TP.HCM và hơn 155.000 doanh nghiệp trên cả nước rút lui khỏi thị trường. Ông nhìn nhận nghịch lí này như thế nào?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi nghĩ đây là một tín hiệu cần được nhìn nhận rất nghiêm túc. Một nền kinh tế có thể đạt những con số tăng trưởng tích cực, xuất khẩu tăng, FDI duy trì tốt, đầu tư hạ tầng được đẩy mạnh. Nhưng nếu một bộ phận lớn doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là SME, đang rời khỏi thị trường thì chúng ta cần đặt câu hỏi về chất lượng của tăng trưởng.

Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, không nên vội quy tất cả vào quy luật đào thải của thị trường. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Gần 39.000 doanh nghiệp rút lui tại TP.HCM không đơn thuần là một con số thống kê. Mỗi doanh nghiệp rút lui là một dòng tiền bị đứt, một chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng, những việc làm bị mất và một phần năng lực sản xuất của nền kinh tế bị thu hẹp.

Điều đáng nói là không nên vội quy tất cả vào quy luật đào thải của thị trường. Thị trường chắc chắn phải có đào thải. Nhưng nếu doanh nghiệp rút lui vì chi phí tuân thủ quá lớn, thủ tục kéo dài, vốn khó tiếp cận, chính sách thiếu tính dự báo hoặc không đủ sức đáp ứng những tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế thì câu chuyện đã vượt ra ngoài phạm vi của một cuộc đào thải bình thường. Nó trở thành vấn đề về năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

- Vậy theo ông, “nút thắt” nằm ở đâu?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi cho rằng có một nút thắt rất quan trọng: chi phí để doanh nghiệp biến một cơ hội kinh doanh thành kết quả thực tế đang còn quá lớn.

Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Đặng Minh Thông (bên phải) tham quan và trao đổi với doanh nghiệp tại Hội nghị chuyên đề “Thúc đẩy đóng góp kinh tế số vào tăng trưởng GRDP của TP.HCM
Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Đặng Minh Thông (bên phải) tham quan và trao đổi với doanh nghiệp tại Hội nghị chuyên đề “Thúc đẩy đóng góp kinh tế số vào tăng trưởng GRDP của TP.HCM". Ảnh: Sở KH - CN TP.HCM.

Doanh nghiệp không ngại cạnh tranh. Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro thị trường. Điều họ e ngại là sự không chắc chắn. Một dự án chậm vài tháng có thể mất một cơ hội đầu tư. Một thủ tục kéo dài có thể khiến doanh nghiệp mất khách hàng. Một cách hiểu khác nhau về cùng một quy định có thể làm doanh nghiệp không dám quyết định.

Với doanh nghiệp lớn, những chi phí đó đã là gánh nặng. Với SME, đôi khi chỉ một vài tháng dòng tiền bị đình trệ cũng có thể trở thành vấn đề sống còn.

Vì vậy, cải cách thể chế không phải một câu chuyện xa xôi. Nó hiện diện trong từng hợp đồng, từng dự án và từng quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

- Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp rút lui chủ yếu vì thiếu vốn. Ông có đồng tình?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi cho rằng thiếu vốn chỉ là phần nổi. Vấn đề sâu hơn là khả năng hấp thụ vốn.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng không phải lúc nào cũng khan hiếm, nhưng tiền chưa chắc đã đến được đúng nơi cần nó nhất. SME thường gặp một vòng luẩn quẩn: thiếu tài sản bảo đảm, khó tiếp cận tín dụng, không có vốn để đổi mới công nghệ và tái cấu trúc, dòng tiền yếu đi rồi lại càng khó vay.

Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, Việt Nam phải có những hành động thực chất, rõ ràng trong việc làm sạch chuỗi cung ứng và định hình lại vị thế chiến lược của mình. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng cho biết, hỗ trợ doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở tín dụng. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Nếu cứ nhìn doanh nghiệp qua tài sản thế chấp, chúng ta có thể bỏ qua một bộ phận doanh nghiệp có năng lực tạo dòng tiền nhưng chưa tích lũy đủ tài sản.

Tôi nghĩ cần tiến thêm một bước trong cách đánh giá tín dụng. Dòng tiền, dữ liệu tài chính, lịch sử giao dịch và năng lực vận hành phải được xem là những căn cứ quan trọng hơn. Đây cũng là lúc chúng ta cần nhìn dữ liệu như một tài sản kinh tế.

- Nói như vậy, phải chăng doanh nghiệp đang thiếu cả “oxy” ngắn hạn lẫn một con đường dài hạn?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Đúng. Tôi rất đồng tình với cách nói doanh nghiệp đang thiếu cả “oxy” dòng tiền và “bản đồ” chuyển đổi. Một SME hiện nay phải chạy hai cuộc đua cùng lúc. Một cuộc đua để tồn tại mỗi ngày: tiền lương, tiền thuê, vốn lưu động, đơn hàng, lãi vay.

Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa - đơn vị tiên phong chuyển đổi xanh. Ảnh: L.T.T
Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa - đơn vị tiên phong chuyển đổi xanh. Ảnh: L.T.T

Cuộc đua thứ hai dài hơn: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc, đo lường carbon và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Nếu doanh nghiệp vừa phải chịu chi phí tuân thủ trong nước, vừa phải đầu tư cho chuyển đổi xanh, nhưng thiếu vốn và thiếu dữ liệu để thực hiện, sức chịu đựng sẽ rất hạn chế.

Bởi vậy, hỗ trợ doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở tín dụng. Doanh nghiệp cần cả công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn, thị trường và một môi trường pháp lí dễ dự đoán hơn.

“Cỗ xe tam mã” muốn chạy nhanh, cả ba bánh phải cùng lăn

- Ông nhiều lần nhắc tới “cỗ xe tam mã”. Vì sao hình ảnh này lại phù hợp với nền kinh tế Việt Nam năm 2026?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi dùng hình ảnh “cỗ xe tam mã” để nói về ba động lực lớn của nền kinh tế: tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu.

Một nền kinh tế muốn đi xa thì không thể để một động lực kéo quá nặng trong khi những động lực khác bị hụt hơi.

Tiêu dùng tạo sức cầu. Đầu tư tạo năng lực sản xuất. Xuất khẩu mở rộng không gian thị trường.

Ba động lực này có quan hệ rất chặt chẽ. Người dân có thu nhập và niềm tin thì tiêu dùng tăng. Doanh nghiệp bán được hàng sẽ đầu tư. Đầu tư tạo việc làm và thu nhập mới. Khi năng lực sản xuất tốt hơn, hàng hóa Việt Nam có thể đi xa hơn trên thị trường quốc tế. Đó là vòng tuần hoàn mà chúng ta cần tạo ra.

- Với “con ngựa” tiêu dùng, đâu là điều cần làm ngay?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Không thể kích cầu chỉ bằng lời kêu gọi người dân tiêu dùng.

Muốn người dân chi tiêu, trước hết phải tạo được niềm tin về thu nhập và tương lai. Khi một gia đình còn lo lắng về công việc, thu nhập hay chi phí sinh hoạt, họ sẽ có xu hướng tiết kiệm và trì hoãn những khoản chi chưa cần thiết. Do đó, kích cầu phải gắn với việc củng cố sức mua thực tế.

Chuyên gia kinh tế Nguyên Hoàng Dũng phát biểu tại Hội thảo
CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, tinh thần của Nghị quyết 79 cần được phát huy ở những lĩnh vực chiến lược. Ảnh: Hoàng Bắc.

Ở phía doanh nghiệp cũng vậy. Khu vực tư nhân chỉ mạnh dạn tái đầu tư khi họ nhìn thấy thị trường và cảm nhận được sự ổn định của chính sách.

Tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân cần được chuyển thành những chính sách rất cụ thể, giúp giảm chi phí, mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực và quan trọng nhất là tạo niềm tin để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn.

- Còn với đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và FDI?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Đầu tư công cần thực sự đóng vai trò “vốn mồi”.

Một tuyến đường, một cảng, một trung tâm logistics hay một công trình hạ tầng chiến lược nếu được triển khai đúng tiến độ sẽ không dừng lại ở giá trị của công trình. Nó có thể kéo theo hàng loạt dự án tư nhân, tạo thị trường mới và mở rộng không gian phát triển.

Doanh nghiệp Việt Nam đang ứng dụng AI trong các quy trình sản xuất. Ảnh minh hoạ
Doanh nghiệp Việt Nam đang ứng dụng AI trong các quy trình sản xuất. Ảnh minh hoạ.

Nhưng tiền phải đi vào nền kinh tế đủ nhanh và đúng chỗ. Vốn nằm trong ngân sách thì chưa tạo ra tăng trưởng. Công trình chậm tiến độ cũng chưa tạo ra năng lực sản xuất.

Với doanh nghiệp nhà nước, tinh thần của Nghị quyết 79 cần được phát huy ở những lĩnh vực chiến lược, nơi doanh nghiệp nhà nước có thể mở đường, dẫn dắt và tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp cốt lõi.

Còn FDI cần được nhìn sâu hơn vào chất lượng. Chúng ta không nên chỉ hỏi “thu hút được bao nhiêu vốn”, mà cần hỏi doanh nghiệp Việt Nam nhận được gì từ dòng vốn đó. Có thêm bao nhiêu nhà cung ứng trong nước? Tỷ lệ nội địa hóa tăng ra sao? Công nghệ được chuyển giao thế nào?

Một dòng vốn FDI tốt phải tạo ra một hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam mạnh hơn.

- Xuất khẩu đang là động lực quan trọng, nhưng cũng chịu sức ép ngày càng lớn từ các hàng rào kỹ thuật xanh. Doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi thế nào?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi cho rằng chúng ta đang bước vào một giai đoạn mà hàng hóa xuất khẩu phải có thêm một “hộ chiếu dữ liệu”.

Lãnh đạo Sở KH - CN TP.HCM cùng các đại biểu thực hiện Nghi thức triển khai Đề án chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: Sở KH -CN TP.HCM.
Lãnh đạo Sở KH - CN TP.HCM cùng các đại biểu thực hiện Nghi thức triển khai Đề án chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: Sở KH -CN TP.HCM.

Trước đây, doanh nghiệp cạnh tranh chủ yếu bằng giá, chất lượng và thời gian giao hàng. Bây giờ, khách hàng và thị trường còn muốn biết sản phẩm được tạo ra như thế nào, nguyên liệu từ đâu, phát thải bao nhiêu, bao bì có thể tái chế không và chuỗi cung ứng có minh bạch hay không.

CBAM, PPWR hay PFAS vì thế không còn là những thuật ngữ xa lạ. Chúng có thể quyết định một sản phẩm có được bước vào thị trường hay không. Muốn vượt qua những rào cản đó, doanh nghiệp phải có dữ liệu. Và tôi cho rằng đây là lúc Việt Nam có thể biến một thách thức thành lợi thế.

- Ông gọi dữ liệu là “tư liệu sản xuất mới”. Đây có phải là một bước chuyển rất lớn?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Đúng vậy. Trong nền kinh tế số, dữ liệu không còn đơn giản là thứ để lưu trữ. Nó trở thành đầu vào của sản xuất, quản trị và ra quyết định. Quyết định 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 về Chiến lược Dữ liệu Quốc gia cần được nhìn ở tầm chiến lược như vậy.

1787371607408_5458473546073837277_g5156555060233522578_e59923e997477384d1e63aac6770e004.jpg
Theo CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng, trong nền kinh tế số, dữ liệu không còn đơn giản là thứ để lưu trữ. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Với SME, tôi đặc biệt quan tâm ba nhóm dữ liệu. Dữ liệu chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp biết hàng hóa đang ở đâu, tồn kho bao nhiêu, nhu cầu thị trường thế nào và có thể cắt giảm những chi phí nào.

Dữ liệu tài chính giúp doanh nghiệp minh bạch hơn, đồng thời tạo thêm cơ sở để ngân hàng đánh giá khả năng tín dụng thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp.

Dữ liệu carbon giúp doanh nghiệp chứng minh sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.

Khi đó, dữ liệu không còn nằm trên máy chủ. Nó đi thẳng vào năng suất, dòng tiền và thị trường.

Không thể ngồi chờ “gió thuận”: "Mũi nhọn" nằm ở năng lực giải phóng nguồn lực

- Với bốn tháng cuối năm 2026, ông nhìn thấy những kịch bản nào?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi nhìn thấy ba kịch bản. Kịch bản cơ bản, với xác suất khoảng 55%, tăng trưởng đạt 6,5-6,8%. Điều kiện là “cỗ xe tam mã” tiếp tục vận hành ổn định, giải ngân đầu tư công đạt trên 90% kế hoạch và làn sóng SME rút lui bắt đầu chững lại.

1787371607184_5458473546073837277_g5156555060233522578_e21f810b78ad0c9520433c0cdff9e9f4.jpg
CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, cải cách thể chế thực chất là một cuộc giải phóng nguồn lực. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Kịch bản bứt phá có xác suất khoảng 30%, tăng trưởng đạt 7-7,3%. Đây là kịch bản chúng ta cần hướng tới. Muốn vậy, phải thực sự giải phóng nguồn lực thông qua việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 68, Nghị quyết 79 và Nghị quyết 10. Đồng thời, phải bắt đầu khai thác dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới.

Kịch bản thận trọng có xác suất khoảng 15%, tăng trưởng dưới 6,2%. Rủi ro có thể đến từ sức mua suy yếu kéo dài, các rào cản xanh tác động mạnh tới SME xuất khẩu và tâm lí e ngại trách nhiệm ở cấp thực thi.Nhưng tôi cho rằng, chúng ta không nên ngồi chờ xem mình rơi vào kịch bản nào.

- Vậy điều gì quyết định Việt Nam có thể đi từ kịch bản cơ bản sang kịch bản bứt phá?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Đó là tốc độ giải phóng nguồn lực.

Tôi không nghĩ bài toán lớn nhất của Việt Nam hiện nay là thiếu nguồn lực. Chúng ta có vốn, có thị trường, có con người, có doanh nghiệp và có cơ hội từ các dòng dịch chuyển đầu tư toàn cầu.

Vấn đề là những nguồn lực đó đang được giải phóng với tốc độ nào. Một dự án chờ thủ tục quá lâu là nguồn lực bị khóa. Một doanh nghiệp có đơn hàng nhưng không vay được vốn là nguồn lực bị khóa. Một sản phẩm có chất lượng nhưng không chứng minh được dữ liệu carbon cũng là một nguồn lực bị khóa. Vì vậy, cải cách thể chế thực chất là một cuộc giải phóng nguồn lực.

- Ông từng nói cần một cuộc “giải phẫu” đối với những điểm nghẽn đang làm SME suy yếu. Cuộc giải phẫu ấy nên bắt đầu từ đâu?

CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi nghĩ trước hết phải nhìn thẳng vào những quy định đang tạo ra chi phí lớn nhưng giá trị quản lí chưa tương xứng.

Sau đó là rút ngắn thời gian xử lí thủ tục và làm rõ trách nhiệm.

Một điểm rất quan trọng khác là phải tạo không gian để cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung có thể hành động.

Nếu cán bộ luôn có tâm lí “làm thì sợ sai, không làm thì an toàn”, toàn bộ máy sẽ chậm lại. Nhưng nếu thị trường chờ đợi bộ máy thì doanh nghiệp sẽ mất cơ hội từng ngày.

Tôi cho rằng cần mạnh dạn thay đổi tư duy “không quản được thì cấm”. Quản trị hiện đại phải dựa trên tiêu chuẩn, dữ liệu, minh bạch và hậu kiểm phù hợp.

- Vậy theo ông, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị gì để thích ứng và giữ vững sức cạnh tranh?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi cho rằng nhà quản trị thế hệ mới cần có bản lĩnh 3T: Tâm - Trí - Thời.

Các khu công nghiệp đang đối diện với nhiều điểm nghẽn trong chuyển đổi xanh. Ảnh: N.H.H
Các khu công nghiệp đang đối diện với nhiều điểm nghẽn trong chuyển đổi xanh. Ảnh: N.H.H

“Tâm” là sự tỉnh táo và đạo đức trong kinh doanh. Không đánh đổi thương hiệu, môi trường và uy tín lấy lợi ích ngắn hạn.

“Trí” là năng lực học hỏi và đọc dữ liệu. Nhà quản trị phải hiểu được thị trường, dòng tiền, công nghệ và những thay đổi chính sách.

“Thời” là khả năng nhìn thấy thời cơ và hành động đúng lúc.

Có những doanh nghiệp không thất bại vì thiếu năng lực. Họ thất bại vì hành động quá muộn.

Trong một thế giới biến động nhanh, biết lúc nào nên tái cấu trúc, lúc nào nên mở rộng và lúc nào nên chuyển thị trường là năng lực sống còn.

- Nếu phải chỉ ra một vấn đề lớn nhất mà Việt Nam cần giải quyết trong năm 2026, ông sẽ chọn gì?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi sẽ chọn niềm tin và năng lực giải phóng nguồn lực thông qua thể chế. Chúng ta đang đứng trước một “tam giác thách thức”. Một phía là áp lực chuyển đổi xanh từ bên ngoài. Một phía là sức bền đang suy giảm của khu vực SME. Phía còn lại là năng lực cạnh tranh thể chế phải chạy nhanh hơn.

Nếu doanh nghiệp yếu, tiêu chuẩn quốc tế càng trở thành gánh nặng. Nếu thể chế chậm, doanh nghiệp càng khó chuyển đổi. Nếu không chuyển đổi, năng lực xuất khẩu lại suy giảm.

Muốn phá vòng xoáy đó, chính sách phải đi trước doanh nghiệp một bước. Không thể đợi doanh nghiệp bị loại khỏi thị trường mới hỗ trợ. Không thể đợi hàng xuất khẩu bị trả về mới nghĩ đến dữ liệu carbon. Không thể đợi doanh nghiệp kiệt sức mới bắt đầu tháo thủ tục.

- Vậy “mũi nhọn" thể chế mà ông muốn nhấn mạnh là gì?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Là tháo những điểm nghẽn đang giữ chân nguồn lực và khơi lại niềm tin kinh doanh.

Thể chế tốt không phải là có thật nhiều quy định. Thể chế tốt là giúp người dân và doanh nghiệp biết mình được làm gì, phải làm gì và có thể dự đoán được điều gì.

Khoảng 94,1% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam hiện tập trung vào nhóm tư liệu sản xuất. Ảnh: NQS
Khoảng 94,1% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam hiện tập trung vào nhóm tư liệu sản xuất. Ảnh: NQS

Khi thể chế thông, vốn sẽ đi nhanh hơn. Dự án sẽ đi nhanh hơn. Doanh nghiệp sẽ dám đầu tư hơn. Đó mới là nền tảng của tăng trưởng bền vững.

Tôi cũng cho rằng cần kích hoạt đồng bộ sức mạnh của ba khu vực doanh nghiệp: nhà nước, tư nhân và FDI. Mỗi khu vực có một vai trò, nhưng phải cùng tạo ra giá trị cho nền kinh tế.

Đặc biệt, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần có cơ hội lớn lên, làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và hình thành những doanh nghiệp dân tộc đủ sức cạnh tranh quốc tế.

- Và cuối cùng, ông muốn gửi thông điệp gì tới cộng đồng doanh nghiệp?

- CGKT. Nguyễn Hoàng Dũng: Tôi nghĩ gần 39.000 doanh nghiệp rút lui tại TP.HCM và hơn 155.000 doanh nghiệp trên cả nước phải trở thành một lời cảnh báo đủ mạnh để chúng ta hành động.

Việt Nam cần một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh để đồng hành cùng doanh nghiệp trên hành trình hội nhập quốc tế.
Việt Nam cần một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh để đồng hành cùng doanh nghiệp trên hành trình hội nhập quốc tế. Ảnh minh hoạ.

Nhưng tôi không nhìn con số đó chỉ bằng sự bi quan. Khủng hoảng, ở một góc nhìn khác, cũng có thể trở thành điểm bắt đầu của một cuộc tái cấu trúc.

Bài toán lớn nhất của kinh tế Việt Nam năm 2026 không phải chúng ta thiếu tài nguyên hay thiếu vốn. Điều quan trọng là chúng ta có giải phóng được những nguồn lực đang bị khóa hay không.

Nếu thể chế được tháo gỡ, niềm tin kinh doanh được phục hồi, vốn đến đúng nơi, FDI tạo được liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất và khu vực tư nhân có thêm không gian phát triển, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới.

“Cỗ xe tam mã” phải cùng chạy. Thể chế phải mở đường. Dữ liệu phải tạo năng suất. Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của tăng trưởng. Theo tôi, đó là cách biến những sức ép của năm 2026 thành động lực cho một chặng đường phát triển mới.

Nổi bật
      Mới nhất
      Hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường: Không thể nằm chờ gió thuận
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO