Huy động vốn cho Đông Nam Bộ: Không thể chỉ trông vào ngân hàng
Đông Nam Bộ cần huy động vốn hàng trăm nghìn tỷ đồng cho các dự án trọng điểm. Áp lực nguồn lực đòi hỏi đa dạng hóa kênh dẫn vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng để thúc đẩy tăng trưởng.
Chiều 23-10 đã diễn ra Hội nghị Ngành ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực tài chính – ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026–2030 do NHNN và TP.HCM tổ chức.
15 dự án trọng điểm cần 757.000 tỷ đồng vốn vay
Tại hội nghị, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn cho biết: Đông Nam Bộ tiếp tục là vùng kinh tế có quy mô lớn nhất cả nước, đóng góp 31,40% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong năm 2026.

Trong đó, TP.HCM và Đồng Nai giữ vai trò đầu tàu, tạo động lực tăng trưởng và sức lan tỏa mạnh mẽ cho cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP của các địa phương trong vùng trong 9 tháng đầu năm 2026 đều cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Là vùng động lực tăng trưởng, tập trung nhiều hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu, Đông Nam Bộ đang đứng trước nhu cầu vốn rất lớn để thực hiện các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026–2030. Điều này không chỉ đòi hỏi huy động thêm nguồn lực tài chính mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, thời gian qua, NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng, tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, thanh tra, giám sát, cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thanh toán.
Riêng đối với tín dụng, ngay từ cuối năm 2025, NHNN đã thông báo, giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Cùng với đó, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng đúng, trúng mục tiêu; rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cấp tín dụng và đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn. Các ngân hàng đồng thời được yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và phấn đấu giảm lãi suất cho vay.
Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, cho biết: Đến cuối tháng 9 vừa qua, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%.
Riêng khu vực Đông Nam Bộ, dư nợ tín dụng ước đạt gần 6,8 triệu tỷ đồng, chiếm gần 35% dư nợ toàn quốc, tăng 10,93% so với cuối năm 2025.
Đáng chú ý, nhằm tạo thêm dư địa vốn cho các dự án trọng điểm, NHNN đã áp dụng cơ chế loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng thương mại tham gia tài trợ 35 công trình, dự án quy mô lớn trên cả nước, với tổng nhu cầu vay vốn khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
Đây là những dự án có tính chất lan tỏa, liên kết vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Trong số này, riêng Đông Nam Bộ có 15 dự án với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 757.000 tỷ đồng.
Quy mô vốn nói trên cho thấy áp lực huy động nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng của vùng trong những năm tới, đồng thời đặt ra bài toán cân đối nguồn vốn dài hạn, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng.

chiều 23-10. Ảnh: T.L
Tăng trưởng hai con số: Không thể dồn gánh nặng lên ngân hàng
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Như Thạch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM, cho rằng hệ thống ngân hàng đang gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Theo số liệu ông Thạch dẫn tại hội nghị, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 83% tổng nguồn tài trợ của nền kinh tế, trong khi trái phiếu chỉ chiếm khoảng 13% và vốn cổ phần khoảng 4%.
Đáng lo ngại, tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tạo sức ép ngày càng lớn lên thanh khoản ngân hàng. Việc tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để tài trợ tăng trưởng không chỉ ngày càng khó khăn mà còn tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn hệ thống tài chính.
Trong khi nhu cầu vốn cho các dự án lớn ngày càng gia tăng, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều hạn chế.
Theo ông Thạch, dù chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ tiếp cận được khoảng 20% tín dụng ngân hàng. Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 10–12%/năm, trong khi 93,5% khoản vay đòi hỏi tài sản bảo đảm.
Ở chiều ngược lại, một số dự án lớn của các tập đoàn được hưởng cơ chế ngoại lệ về hạn mức tăng trưởng tín dụng. Thực tế này đặt ra vấn đề về khả năng tiếp cận vốn và sự cân đối trong phân bổ nguồn lực giữa các nhóm doanh nghiệp.
Từ những bất cập trên, ông Thạch kiến nghị không thể đặt toàn bộ gánh nặng tài trợ cho mục tiêu tăng trưởng hai con số lên hệ thống ngân hàng thương mại. Thay vào đó, cần phát triển mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường vốn cổ phần, các quỹ đầu tư hạ tầng và những nguồn vốn dài hạn khác.
“Đồng thời, cần đặc biệt quan tâm đến khả năng tiếp cận vốn của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu nguồn lực tập trung quá nhiều vào các dự án lớn, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vốn lưu động, tăng trưởng cao trong ngắn hạn có thể phải đánh đổi bằng sự suy yếu của năng lực sản xuất. Bên cạnh việc đa dạng hóa nguồn vốn, yêu cầu cải thiện năng suất, chất lượng đầu tư và hiệu quả phân bổ vốn để giảm áp lực huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Việc duy trì tăng trưởng tín dụng nhanh hơn huy động vốn trong thời gian dài, cộng với rủi ro từ thị trường bất động sản, có thể tạo ra những bất ổn đáng kể. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng cao phải đi đôi với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính”, ông Thạch nói.
Cùng quan điểm cần tháo gỡ những rào cản tiếp cận vốn, ông Trịnh Văn Hải, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh, cho rằng: Với doanh nghiệp, vốn đến kịp thời có thể giúp giữ đơn hàng, duy trì việc làm và mở rộng thị trường.
Theo ông Hải, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp trên địa bàn rất lớn. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu vay từ 20–30 tỷ đồng, còn doanh nghiệp lớn có nhu cầu từ 200–2.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp hội viên, ông Hải chỉ ra ba nhóm vướng mắc trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng.
Trước hết là những khó khăn liên quan đến đất đai và tài sản bảo đảm. Sau sáp nhập, một số quy hoạch đang được cập nhật, khiến doanh nghiệp phải chờ gia hạn thời hạn sử dụng đất, hoàn thiện hồ sơ tài sản hoặc làm rõ việc định giá.
Đối với đất thuê trả tiền hằng năm, phạm vi tài sản có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm còn những giới hạn, buộc ngân hàng phải thận trọng khi thẩm định. Theo Luật Đất đai năm 2024, doanh nghiệp thuê đất trả tiền hằng năm có thể thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất khi đáp ứng các điều kiện liên quan.
Do đó, ông Hải kiến nghị cơ quan chức năng hướng dẫn rõ đầu mối và hồ sơ, ngân hàng thông tin sớm các điều kiện tín dụng, đồng thời doanh nghiệp phải chủ động hoàn thiện pháp lý tài sản ngay từ đầu.
Nhóm vướng mắc thứ hai liên quan đến pháp lý nhà xưởng. Một số doanh nghiệp vẫn phải bổ sung hồ sơ xây dựng, phòng cháy, chữa cháy và các thủ tục môi trường. Những vấn đề này cần được doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn và ngân hàng phối hợp rà soát, tháo gỡ sớm để xác định tài sản đủ điều kiện nhận bảo đảm.
Đặc biệt, nhóm vấn đề thứ ba là tính minh bạch của thông tin tài chính, yếu tố mà theo ông Hải, bản thân doanh nghiệp phải chủ động thay đổi.
Báo cáo tài chính cần phản ánh đúng doanh thu, dòng tiền phải rõ ràng, công tác kế toán phải bám sát hoạt động kinh doanh để ngân hàng có đủ cơ sở đánh giá khả năng trả nợ.
"Nhiều trường hợp, nhu cầu vốn là thật, hoạt động sản xuất là thật, nhưng hồ sơ pháp lý và thông tin tài chính chưa đủ rõ để ngân hàng yên tâm đồng hành", ông Hải nhìn nhận.

Từ thực tế này, việc khơi thông nguồn vốn cho Đông Nam Bộ không chỉ phụ thuộc vào khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng, mà còn đòi hỏi tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, nâng cao tính minh bạch tài chính của doanh nghiệp và phát triển thêm các kênh huy động vốn trung, dài hạn.
Đây cũng là những điều kiện quan trọng để dòng vốn không chỉ được cung ứng với quy mô lớn hơn mà còn đến đúng đối tượng, được sử dụng hiệu quả và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho toàn vùng.
Đứng từ góc nhìn của thị trường vốn, bà Đặng Thị Thanh Hương – Phó Tổng Giám Đốc, Sở Giao Dịch chứng khoán TP.HCM (Hose) đưa ra ba nhóm giải pháp khơi thông thị trường vốn cho vùng Đông Nam Bộ:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển xanh và bền vững.
Các cơ quan quản lý cần nghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ và ưu đãi có trọng tâm đối với các doanh nghiệp theo đuổi mô hình phát triển bền vững.
Trọng tâm là khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản trị, năng lực tài chính, tính minh bạch và đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đồng thời, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả hơn các nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế xanh.
Trong đó, thị trường chứng khoán cần phát huy vai trò huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính phù hợp.
Hệ thống ngân hàng tiếp tục phát triển tín dụng xanh, đa dạng hóa các sản phẩm tài trợ để cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho những dự án đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững.
Các chính sách hỗ trợ cần gắn với tiêu chí đánh giá rõ ràng, bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng đối tượng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và hiệu quả thực thi chính sách.
Thứ hai, cần thúc đẩy phát triển các quỹ đầu tư hạ tầng nhằm huy động nguồn vốn dài hạn.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt ra nhu cầu rất lớn về nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng, việc nghiên cứu phát triển các quỹ đầu tư hạ tầng là một hướng đi cần được quan tâm. Các quỹ này có thể tạo cơ chế huy động ổn định nguồn vốn dài hạn từ các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư trong và ngoài nước để tham gia tài trợ cho những dự án hạ tầng có quy mô lớn. Qua đó, bổ sung nguồn lực bên cạnh ngân sách nhà nước và nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Để hiện thực hóa định hướng này, cần nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mô hình tổ chức và cơ chế vận hành phù hợp. Đồng thời, nâng cao tính minh bạch, khả năng đánh giá hiệu quả và quản trị rủi ro của các dự án.
Khi được phát triển đồng bộ với các công cụ huy động vốn trên thị trường chứng khoán và cơ chế phối hợp của hệ thống ngân hàng, các quỹ đầu tư hạ tầng sẽ góp phần đa dạng hóa nguồn vốn tài trợ, phân bổ rủi ro hợp lý và khơi thông nguồn vốn trung, dài hạn cho các công trình có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.



