Kinh tế

Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số- Kỳ 4: Giảm 2 điểm phần trăm nhưng...

Thùy Linh, Mai Đình • 22/10/2026 09:25

"Một khoản vay đang chịu lãi suất 15-16%/năm, sau khi giảm 2 điểm phần trăm vẫn còn 13-14%/năm. Ngân hàng có thể báo cáo đã thực hiện giảm lãi suất, nhưng doanh nghiệp vẫn phải gánh chịu chi phí vốn quá lớn"- đại diện một công ty cho biết.

Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu giảm lãi suất cho vay. Đồng thời, đặt ra mức giảm cụ thể đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Nhiều ngân hàng lớn cũng công bố chương trình ưu đãi.

Nhưng với doanh nghiệp và người dân, điều quan trọng không chỉ là những con số được công bố, mà là khoản lãi phải trả có thực sự giảm, điều kiện vay có minh bạch và dòng vốn có đến đúng đối tượng hay không.

Chỉ đạo đã rõ, điều doanh nghiệp chờ là kết quả

Trong bối cảnh chi phí vốn còn cao, yêu cầu giảm lãi suất đã được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đặt ra với những nội dung cụ thể hơn. Thay vì chỉ kêu gọi chung, cơ quan quản lý yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động ở một số kỳ hạn, tiết giảm chi phí hoạt động và chia sẻ một phần lợi nhuận để giảm lãi suất cho vay.

“

Mức lãi suất niêm yết hay mức giảm được công bố chỉ là một phần của câu chuyện. Điều người vay cần là các điều kiện tín dụng minh bạch, lãi suất được xác định rõ ràng, việc điều chỉnh có cơ sở và chi phí vốn phù hợp hơn với khả năng tạo ra lợi nhuận của hoạt động sản xuất, kinh doanh

Cụ thể, chiều 16/10, tại cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ những tháng cuối năm, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đánh giá việc phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa thời gian qua đã góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, diễn biến thế giới còn phức tạp, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay vẫn cao, làm tăng chi phí vốn và ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, người dân.

Từ thực tế trên, Phó thủ tướng yêu cầu NHNN khẩn trương triển khai thực chất, hiệu quả các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất, trong đó giảm lãi suất cho vay từ 1,5–2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Đến ngày 18/10, NHNN ban hành văn bản số 9608/NHNN-CSTT về triển khai các giải pháp hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo đó, các ngân hàng phải giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; không chạy đua tăng lãi suất huy động hoặc cạnh tranh thiếu lành mạnh.

Ở chiều cho vay, các tổ chức tín dụng phải triển khai giải pháp giảm lãi suất, tập trung mức giảm từ 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Yêu cầu này được đưa ra trong bối cảnh cuối năm thường là thời điểm doanh nghiệp cần thêm vốn để hoàn thành đơn hàng, bổ sung nguyên liệu, thanh toán công nợ và chuẩn bị kế hoạch sản xuất cho năm tiếp theo. Nếu chi phí vốn duy trì ở mức cao, khoản lãi phải trả sẽ tiếp tục bào mòn lợi nhuận, nhất là với những doanh nghiệp có vòng quay vốn dài hoặc biên lợi nhuận thấp.

Vì vậy, điều doanh nghiệp cần lúc này không chỉ là thông tin ngân hàng đã công bố giảm lãi suất. Họ cần biết khoản vay của mình có thuộc đối tượng được giảm hay không, mức giảm được áp dụng từ thời điểm nào, có áp dụng cho dư nợ hiện hữu hay chỉ khoản vay mới, và những điều kiện nào đi kèm.

Nhiều ngân hàng công bố chương trình ưu đãi

Sau chỉ đạo của cơ quan quản lý, một loạt ngân hàng lớn công bố chương trình giảm lãi suất cho vay, tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Hàng loạt ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu
Hàng loạt ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu

Từ ngày 15/10, BIDV triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2%/năm so với mức thông thường, tùy kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn. Chương trình áp dụng với các khoản vay ngắn hạn bằng VND, dành cho những ngành, lĩnh vực thuộc định hướng ưu tiên; khách hàng vẫn phải đáp ứng điều kiện cấp tín dụng của ngân hàng.

Agribank bắt đầu triển khai chính sách giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm từ ngày 19/10, tập trung vào khách hàng sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Theo thông tin ngân hàng cung cấp, trong 9 tháng đầu năm, lãi suất huy động bình quân đạt khoảng 5,45%/năm, tăng 1,6 điểm phần trăm so với đầu năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân tăng 1,49 điểm phần trăm/năm.

Agribank cho biết các chương trình tín dụng ưu đãi đang triển khai có dư nợ khoảng 275.000 tỉ đồng, với lãi suất cho vay bình quân 6,6%/năm, thấp hơn khoảng 2–2,5 điểm phần trăm so với lãi suất thông thường. Theo tính toán của ngân hàng, các chương trình này đã làm giảm khoảng 6.000 tỉ đồng thu nhập lãi. Ngân hàng dự kiến dành khoảng 2.000 tỉ đồng từ nguồn lực tài chính để thực hiện các chương trình giảm lãi suất cho vay.

Trong khi đó, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết ngân hàng cam kết giảm tối thiểu 2% lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp.

Bên cạnh các chương trình giảm lãi suất, bốn ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank đã công bố các gói tín dụng ưu đãi với tổng quy mô 220.000 tỉ đồng, mức lãi suất thấp hơn từ 1–2 điểm phần trăm so với mức cho vay thông thường hoặc bình quân cùng kỳ hạn tại từng ngân hàng. Các chương trình tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và những lĩnh vực ưu tiên khác.

Những động thái này cho thấy hệ thống ngân hàng đã có các chương trình cụ thể để triển khai yêu cầu giảm lãi suất. Tuy nhiên, quy mô gói tín dụng được công bố không đồng nghĩa toàn bộ số tiền đã được giải ngân, cũng không có nghĩa mọi doanh nghiệp đều được vay với cùng một mức lãi suất. Mỗi chương trình có phạm vi, điều kiện và thời gian áp dụng riêng.

Vì vậy, để đánh giá hiệu quả, cần nhìn vào số vốn thực tế đến được với doanh nghiệp, số khách hàng được hưởng ưu đãi và mức giảm lãi suất trên từng khoản vay. Đây cũng là căn cứ để phân biệt giữa một chương trình có quy mô lớn trên thông báo và hỗ trợ thực chất đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

“

Hỗ trợ doanh nghiệp cần được thực hiện trên cơ sở xác định đúng nhu cầu vốn, đánh giá khả năng trả nợ và kiểm soát việc sử dụng tiền vay, thay vì chỉ mở rộng quy mô cho vay.

Cơ chế giám sát phải theo đến khoản vay thực tế

Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cuối năm là thời điểm nhu cầu vốn thường tăng lên. Nhưng việc giảm lãi suất phải được cân nhắc cùng diễn biến lạm phát, tỷ giá, thanh khoản ngân hàng, chi phí huy động vốn, chất lượng tín dụng và điều kiện tài chính quốc tế.

doanh-nghiep-vay-von.jpg
Các ngân hàng được định hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh, những lĩnh vực ưu tiên. Ảnh: TL

Ông cho rằng cần phân biệt lãi suất điều hành với lãi suất cho vay thực tế. Chính sách có thể định hướng chi phí vốn, nhưng mức giảm đến được với doanh nghiệp còn phụ thuộc vào rủi ro tín dụng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng và năng lực tài chính của từng khách hàng.

Từ góc nhìn này, việc thực thi chỉ đạo giảm lãi suất cần có cơ chế theo dõi rõ ràng. Ngân hàng phải công khai điều kiện áp dụng, thời hạn ưu đãi, cách tính lãi và phạm vi khách hàng được hưởng. Với khoản vay hiện hữu, người vay cần được thông tin rõ việc giảm lãi suất có áp dụng hay không và mức giảm cụ thể là bao nhiêu.

NHNN cũng đã nêu các biện pháp xử lý đối với tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo về lãi suất hoặc có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường. Những ngân hàng vi phạm có thể bị xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong thời gian còn lại của năm 2026, giao chỉ tiêu thấp hơn trong năm 2027 hoặc yêu cầu áp dụng một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định...

Các biện pháp này tạo sức ép để ngân hàng thực hiện nghiêm yêu cầu điều hành. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng vẫn phải được đo bằng mức giảm chi phí vay thực tế và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đủ điều kiện.

Đối với người gửi tiền, yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm áp dụng cho lãi suất tiền gửi niêm yết ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên cũng là thông tin cần theo dõi. Người gửi tiền nên xem biểu lãi suất mới của từng ngân hàng và phân biệt mức niêm yết với điều khoản của khoản tiền gửi đã giao kết.

Giảm 1,5–2 điểm phần trăm nhưng...

TS Giang Chân Tây cho rằng, ông trân trọng chủ trương chỉ đạo giảm lãi suất cho vay khoảng 1,5–2 điểm phần trăm. Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, ông cho rằng nếu chỉ quy định mức giảm mà không quy định mức lãi suất cuối cùng phải đạt được thì chủ trương đúng đắn này có nguy cơ không mang lại hiệu quả thực chất.

"Một khoản vay đang chịu lãi suất 15-16%/năm, sau khi giảm 2 điểm phần trăm vẫn còn 13-14%/năm. Ngân hàng có thể báo cáo đã thực hiện giảm lãi suất, nhưng doanh nghiệp vẫn phải gánh chịu chi phí vốn quá lớn", ông phân tích.

Từ những phân tích trên, ông đề nghị Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, chỉ đạo nghiên cứu và cụ thể hóa sáu nội dung. Một là, xây dựng lộ trình đưa lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh về 7-8%/năm trong giai đoạn trước mắt, lấy 8%/năm làm mức trần đề xuất; sau sáu tháng tiếp tục giảm về 6–7%/năm, với mức trần đề xuất 7%/năm.

Hai là, kiểm soát đồng bộ lãi suất huy động và lãi suất cho vay; nghiên cứu giới hạn chênh lệch đầu vào – đầu ra khoảng 1-1,5 điểm phần trăm/năm, không vượt quá 1,5 điểm phần trăm đối với nhóm khoản vay đủ điều kiện sau khi thẩm định tính khả thi.

Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo vệ doanh nghiệp đang vay vốn, ngăn ngừa việc điều chỉnh lãi suất thả nổi thiếu minh bạch, bất hợp lý hoặc trái thỏa thuận.

Bốn là, thanh tra, ngăn chặn các hình thức tăng lãi suất trước rồi giảm sau, ưu đãi ngắn hạn thiếu minh bạch và tăng phí để bù phần lãi suất đã giảm.

Năm là, đề nghị Ngân hàng Nhà nước quy định giới hạn trần và biên độ điều chỉnh lãi suất thả nổi; tăng cường thanh tra, kiểm tra những khoản vay áp dụng lãi suất thả nổi không có giới hạn rõ ràng. Khi phát hiện vi phạm, phải xử phạt nghiêm, không chỉ nhắc nhở.

Không thể để điều khoản “thả nổi” trở thành quyền tăng lãi suất tùy ý bất tận của ngân hàng, đẩy doanh nghiệp vào thế buộc phải chấp nhận vì vốn đã đưa vào kinh doanh, không thể lập tức thu hồi để trả nợ.

Sáu là, giám sát kết quả giảm lãi suất bằng số tiền thực tế doanh nghiệp được hưởng, không chỉ căn cứ vào mức giảm ngân hàng công bố.

Bảy là, quy định trách nhiệm giải trình, xử lý vi phạm và bảo đảm doanh nghiệp tiếp tục tiếp cận được nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.

"Quan điểm cơ bản của doanh nghiệp là chấp nhận rủi ro kinh doanh, chấp nhận cạnh tranh và có trách nhiệm trả nợ ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp không thể bị buộc phải gánh chịu những mức lãi suất quá cao và bất hợp lý của ngân hàng hoặc những lần điều chỉnh tăng thiếu minh bạch, vượt ngoài khả năng dự tính của doanh nghiệp.

Điều cộng đồng doanh nghiệp cần hiện nay không chỉ là chủ trương giảm lãi suất, mà là một cơ chế quản lý đủ hiệu lực để bảo đảm lãi suất thực sự giảm về mức hợp lý, ổn định và có thể kiểm soát", ông Tây nhấn mạnh.

“

Việc giảm lãi suất từ mức quá cao xuống một mức vẫn cao không thể xem là đã hoàn thành mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp.

doanh-nghiep-vay-von-4.jpg
Điều cộng đồng doanh nghiệp cần hiện nay không chỉ là chủ trương giảm lãi suất, mà là một cơ chế quản lý đủ hiệu lực để bảo đảm lãi suất thực sự giảm về mức hợp lý. Ảnh: TL

Doanh nghiệp kiến nghị khống chế trần lãi suất cho vay

Đại diện một công ty thực phẩm đề nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu áp dụng trần lãi suất cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh ở mức 8%/năm trong giai đoạn trước mắt, sau sáu tháng giảm xuống còn 7%/năm. Theo doanh nghiệp này, việc giảm lãi suất từ mức quá cao xuống một mức vẫn cao không thể xem là đã hoàn thành mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp.

Trong kiến nghị gửi cơ quan chức năng, đại diện doanh nghiệp cũng cho rằng điều quan trọng không phải ngân hàng đã giảm bao nhiêu điểm phần trăm, mà là sau khi giảm, doanh nghiệp thực tế phải trả lãi suất bao nhiêu.

Theo đó, doanh nghiệp đề xuất áp dụng lộ trình kiểm soát lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trên toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Chính sách cần áp dụng với khoản vay mới, đồng thời có cơ chế điều chỉnh phù hợp đối với dư nợ hiện hữu, đặc biệt là các khoản vay có lãi suất thả nổi. Những khoản vay đang có lãi suất thấp hơn mức trần mới cần được giữ nguyên quyền lợi.

Đại diện doanh nghiệp cũng kiến nghị kiểm soát chặt lãi suất huy động và chênh lệch giữa chi phí vốn đầu vào với lãi suất cho vay. Theo đó, cơ quan quản lý cần nghiên cứu cơ chế kiểm soát trần lãi suất huy động theo kỳ hạn, đồng thời giới hạn chênh lệch giữa lãi suất cho vay và chi phí vốn huy động bình quân thực tế ở mức 1-1,5 điểm phần trăm/năm đối với nhóm khoản vay thuộc chính sách.

Doanh nghiệp đề xuất xây dựng phương pháp xác định chi phí vốn bình quân thống nhất, có tính đến quy mô và cơ cấu nguồn vốn, thay vì lấy mức lãi suất huy động cao nhất làm căn cứ đại diện cho toàn bộ chi phí đầu vào.

Khi chi phí vốn giảm, lãi suất cho vay cần được điều chỉnh tương ứng theo cơ chế minh bạch. Ngược lại, khi chi phí vốn tăng, ngân hàng không mặc nhiên được phép nâng lãi suất cho vay vượt trần mà cần chủ động tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả quản trị và kiểm soát rủi ro.

Một vấn đề khác được doanh nghiệp nhấn mạnh là nguy cơ ngân hàng điều chỉnh lãi suất bất hợp lý đối với những khoản vay đã giải ngân. Khi vốn đã được đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, hàng hóa và hoạt động sản xuất, doanh nghiệp khó có thể lập tức thu hồi vốn hoặc chuyển khoản vay sang ngân hàng khác.

Vì vậy, doanh nghiệp đề nghị kiểm soát chặt các điều khoản lãi suất thả nổi, gồm lãi suất tham chiếu, biên độ cộng thêm, chu kỳ điều chỉnh và mức tăng tối đa; đồng thời ngăn chặn việc thay đổi phương pháp tính lãi trái thỏa thuận và quy định pháp luật.

Đại diện doanh nghiệp cũng đề nghị tăng cường thanh tra những hình thức có thể khiến chủ trương giảm lãi suất không mang lại lợi ích thực chất. Các nội dung cần kiểm tra gồm việc tăng lãi suất trước rồi giảm sau, sử dụng mức lãi suất tham chiếu không phản ánh đúng chi phí vốn, áp dụng lãi suất ưu đãi trong thời gian ngắn rồi tăng cao, hoặc giảm lãi suất danh nghĩa nhưng tăng phí và các điều kiện bắt buộc đi kèm.

Theo kiến nghị, việc thanh tra cần căn cứ vào hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, thông báo điều chỉnh lãi suất, bảng lãi suất và số tiền lãi thực tế thu từ khách hàng. Cơ quan quản lý nên đối chiếu diễn biến lãi suất trong khoảng 3-6 tháng trước và sau thời điểm triển khai chính sách, qua đó đánh giá đầy đủ mức giảm chi phí vốn thực tế của doanh nghiệp.

Nổi bật
      Mới nhất
      Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số- Kỳ 4: Giảm 2 điểm phần trăm nhưng...
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO