Kinh tế

Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số - Kỳ cuối: Phối hợp chính sách, tái cấu trúc dòng tiền để giảm áp lực vốn

Thùy Linh • 22/10/2026 19:01

Nếu vốn chảy vào những hoạt động đầu cơ tài sản hoặc dự án có hiệu quả kinh tế thấp, tăng trưởng tín dụng có thể làm gia tăng rủi ro mà không tạo ra động lực phát triển tương xứng.

Hạ lãi suất có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính, nhưng không thể một mình giải quyết bài toán thiếu vốn dài hạn, đầu ra bấp bênh và năng lực quản trị còn hạn chế.

Nói cách khác, muốn dòng vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần phối hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, phát triển thị trường vốn và giúp doanh nghiệp sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn.

Không thể chỉ trông vào tín dụng ngân hàng

Nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Doanh nghiệp cần tiền nhập nguyên liệu, trả lương, đầu tư nhà xưởng hay mở rộng sản xuất đều tìm đến ngân hàng.

Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn ngày càng lớn, sự phụ thuộc quá nhiều vào một kênh tài trợ cũng tạo ra những giới hạn, nhất là đối với các dự án cần nguồn vốn trung và dài hạn.

Cần đa dạng kênh vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế - xã hội ngày ngày 18/10, bà Đoàn Thị Thanh Mai, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, cho rằng tăng trưởng kinh tế hiện phụ thuộc khá nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh huy động vốn trung và dài hạn khác chưa phát triển như kỳ vọng.

Theo bà Mai, sự phụ thuộc này tạo áp lực thanh khoản và nguy cơ mất cân đối cho hệ thống tài chính, nhất là khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến tình trạng thiếu hụt nguồn vốn kéo dài.

Bà đề nghị Chính phủ làm rõ tiến độ phát triển các kênh dẫn vốn khác để giảm tải cho hệ thống ngân hàng; đồng thời báo cáo cụ thể việc triển khai các trung tâm tài chính tại TP.HCM và Đà Nẵng, đặc biệt là khả năng hình thành sản phẩm từ nay đến cuối năm.

cho-vay-2.jpg
Nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Ảnh: TL

Theo TS Cấn Văn Lực, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 50–51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu đóng góp khoảng 6,4%, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 7%, đầu tư công 12–15% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 12%. Cơ cấu này cho thấy vai trò của tín dụng ngân hàng vẫn rất lớn, trong khi các kênh huy động vốn khác chưa chiếm tỷ trọng tương xứng.

TS Lê Bá Chí Nhân cho rằng vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở khả năng phân bổ dòng vốn đến đúng chủ thể, đúng lĩnh vực để tạo ra giá trị gia tăng. Thực tế có những doanh nghiệp cần vốn nhưng khó tiếp cận tín dụng; ngược lại, một số doanh nghiệp đủ điều kiện vay lại thận trọng mở rộng đầu tư vì đầu ra thiếu chắc chắn, chi phí vốn cao và những vướng mắc pháp lý chưa được tháo gỡ.

Điều đó cho thấy không thể giải bài toán tăng trưởng chỉ bằng cách thúc đẩy ngân hàng cho vay nhiều hơn. Nếu vốn chảy vào những hoạt động đầu cơ tài sản hoặc dự án có hiệu quả kinh tế thấp, tăng trưởng tín dụng có thể làm gia tăng rủi ro mà không tạo ra động lực phát triển tương xứng.

Theo TS Nhân, mục tiêu cuối cùng không phải là tăng tín dụng bằng mọi giá, mà là chuyển hóa dòng vốn thành năng lực sản xuất, việc làm, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Muốn vậy, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn vốn, đồng thời cải thiện khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

“

Tăng trưởng kinh tế hiện phụ thuộc khá nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh huy động vốn trung và dài hạn khác chưa phát triển như kỳ vọng.

Phát triển thị trường vốn để giảm gánh nặng cho ngân hàng

Một trong những hướng đi quan trọng là phát triển thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, qua đó tạo thêm nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cung ứng vốn lên hệ thống ngân hàng.

Ông Huỳnh Duy Sang, Giám đốc Khối Thị trường tài chính ACB, cho rằng phát triển thị trường vốn là bước chuyển cần thiết để nền kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt với nhu cầu tài trợ trung và dài hạn.

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp, theo nội dung bản thảo, mở ra cơ hội thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, cơ hội thu hút vốn không tự động chuyển thành tiền đầu tư vào từng doanh nghiệp. Nhà đầu tư quốc tế có những tiêu chí lựa chọn khắt khe, đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị tốt về năng lực quản trị, minh bạch thông tin và nền tảng tài chính.

Bà Nguyễn Hoài Thu, CFA, Phó tổng giám đốc VinaCapital, cho rằng để huy động nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân cho phát triển hạ tầng, Việt Nam cần thị trường vốn đủ chiều sâu, đa dạng công cụ huy động và có khả năng cung ứng nguồn tài chính dài hạn.

Tại nhiều quốc gia, các quỹ hưu trí và quỹ đầu tư là nguồn vốn quan trọng cho những dự án có thời gian thu hồi vốn kéo dài, trong đó có hạ tầng. Tuy nhiên, hệ thống quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện tại Việt Nam còn hạn chế, quy mô các quỹ mở tương đối nhỏ và chưa hình thành được lực lượng nhà đầu tư tổ chức dài hạn đủ lớn.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng còn dư địa phát triển. Theo ước tính được nêu trong bản thảo, quy mô dư nợ trái phiếu doanh nghiệp chỉ khoảng 9–10% GDP. Khi doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào ngân hàng, nhu cầu vốn dài hạn phải cạnh tranh với các nhu cầu vay ngắn hạn phục vụ hoạt động thường ngày. Điều này đặt ra giới hạn nhất định về kỳ hạn nguồn vốn, thanh khoản và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.

Theo bà Thu, phát triển thị trường trái phiếu, mở rộng quy mô các quỹ đầu tư và hình thành lực lượng nhà đầu tư tổ chức dài hạn là điều kiện quan trọng để khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn vào các dự án hạ tầng.

Để chuyển sự quan tâm của nhà đầu tư trong và ngoài nước thành dòng vốn thực tế, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch và xây dựng cơ chế phân bổ, chia sẻ rủi ro phù hợp.

“

Điều này đặc biệt quan trọng với các dự án hạ tầng có quy mô vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài. Nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng, nguồn lực tài trợ sẽ chịu sức ép lớn, trong khi một thị trường vốn phát triển có thể tạo thêm lựa chọn huy động vốn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Tuy nhiên, phát triển thị trường vốn không có nghĩa chuyển toàn bộ gánh nặng từ ngân hàng sang trái phiếu hoặc cổ phiếu. Mỗi kênh đều có yêu cầu riêng về công khai thông tin, quản trị và trách nhiệm với nhà đầu tư. Thị trường chỉ có thể phát triển bền vững khi doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, công bố thông tin đáng tin cậy và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.

Doanh nghiệp phải nâng chuẩn để đón dòng vốn dài hạn

Từ thực tế hoạt động xuất khẩu nông sản, ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết nhiều doanh nghiệp hiện vẫn chủ yếu vay ngân hàng theo từng thương vụ xuất khẩu. Cách tiếp cận này có thể đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn, nhưng khó bảo đảm nguồn tài chính ổn định cho những kế hoạch phát triển dài hạn.

Chẳng hạn, để xây dựng vùng nguyên liệu và hình thành chuỗi liên kết sản xuất với hàng nghìn nông dân, doanh nghiệp cần đầu tư trong thời gian dài. Nguồn vốn phù hợp phải có kỳ hạn tương ứng với chu kỳ đầu tư, thay vì chỉ dựa vào các khoản vay ngắn hạn phục vụ từng đơn hàng.

Theo ông Mười, tiếp cận nguồn vốn đầu tư dài hạn không chỉ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng mà còn tạo nền tảng tài chính ổn định để chủ động hoạch định chiến lược phát triển.

Dù vậy, từ nhu cầu huy động vốn đến khả năng tiếp cận thực tế vẫn còn khoảng cách. Các quỹ đầu tư thường đánh giá chặt chẽ năng lực tài chính, quản trị, tính minh bạch và triển vọng kinh doanh. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp xuất phát từ quy mô nhỏ, quá trình mở rộng hoạt động chưa đi cùng việc chuẩn hóa hồ sơ, chứng từ và quản trị dòng tiền.

Ông Mười cho rằng doanh nghiệp cần từng bước chuẩn hóa toàn bộ hoạt động, từ quy trình sản xuất, quản trị, quản lý dòng tiền đến hệ thống hồ sơ và chứng từ. Đây là quá trình đòi hỏi thời gian và sự chuẩn bị bài bản, nhưng là điều kiện cần nếu muốn tiếp cận những nguồn vốn ngoài ngân hàng.

Nghị định 200/2026 được Chính phủ vừa ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước cũng như chào bán ra thị trường quốc tế. Ảnh tư liệu
Nghị định 200/2026 được Chính phủ vừa ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước cũng như chào bán ra thị trường quốc tế. Ảnh tư liệu

Từ góc nhìn nhà đầu tư, bà Nguyễn Hoài Thu cho biết VinaCapital tập trung vào những doanh nghiệp có khả năng tạo giá trị gia tăng bền vững cho cổ đông trong dài hạn. Việc lựa chọn doanh nghiệp dựa trên ba trụ cột: chất lượng đội ngũ quản lý, lợi thế cạnh tranh của mô hình kinh doanh và sức mạnh nền tảng tài chính.

Theo bà Thu, tăng trưởng doanh thu cao trong ngắn hạn chưa đủ để bảo đảm chất lượng doanh nghiệp nếu kết quả đó chủ yếu dựa vào đòn bẩy tài chính quá mức hoặc không tạo ra dòng tiền thực. Điều quan trọng là doanh nghiệp có thể duy trì hiệu quả sử dụng vốn, tái đầu tư hợp lý và tạo ra giá trị bền vững qua thời gian.

Như vậy, đa dạng hóa nguồn vốn không đơn thuần là tìm một nơi cho vay khác. Doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn dài hạn cần thay đổi cách quản trị, nâng cao tính minh bạch và chứng minh khả năng sử dụng vốn hiệu quả. Đây cũng là quá trình giúp chính doanh nghiệp nhận diện rõ hơn điểm mạnh, điểm yếu và rủi ro trong hoạt động của mình.

“

Doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn dài hạn cần thay đổi cách quản trị, nâng cao tính minh bạch và chứng minh khả năng sử dụng vốn hiệu quả

Chính sách tài khóa cần tạo thêm sức đỡ

Bên cạnh phát triển thị trường vốn, phối hợp chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ là yêu cầu quan trọng nhằm giảm áp lực chi phí vốn và hỗ trợ tổng cầu.

Trong đó, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công có trọng tâm có thể tạo nguồn việc làm, đơn hàng và dòng tiền lan tỏa đến nhiều ngành kinh tế. Khi các dự án hạ tầng được triển khai hiệu quả, doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, vận tải và các nhà cung cấp liên quan có thêm cơ hội kinh doanh. Điều này góp phần tạo đầu ra cho doanh nghiệp, thay vì chỉ hỗ trợ họ từ phía cung vốn.

Tuy nhiên, hiệu quả của đầu tư công phụ thuộc vào chất lượng dự án, tiến độ triển khai và khả năng kết nối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Giải ngân nhanh nhưng không gắn với hiệu quả sử dụng nguồn lực sẽ khó tạo ra tác động bền vững. Vì vậy, cần ưu tiên các dự án có tính lan tỏa, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục và bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu.

Đặc biệt cần tiếp tục sử dụng các công cụ tài khóa như giảm thuế giá trị gia tăng, gia hạn hoặc giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất khi có đủ điều kiện chính sách. Những biện pháp này có thể giúp doanh nghiệp giữ lại dòng tiền trong giai đoạn khó khăn, bổ sung nguồn lực thanh toán và duy trì hoạt động.

TS Lê Bá Chí Nhân đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, đẩy nhanh đầu tư công có tính lan tỏa và kích cầu tiêu dùng để khơi thông đầu ra cho doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp bán được hàng, thu hồi được tiền và nhìn thấy triển vọng thị trường, nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất cũng có cơ sở tăng lên.

Điều này cho thấy giảm lãi suất chỉ giải quyết một phần bài toán. Nếu doanh nghiệp không có đơn hàng, hàng tồn kho lớn hoặc khách hàng chậm thanh toán, khoản vay rẻ hơn vẫn có thể không đủ để khôi phục hoạt động. Chính sách cần đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán được hàng, thu hồi công nợ và tái đầu tư.

Chính sách giảm lãi suất cũng cần được theo dõi bằng kết quả thực tế. Ảnh: TL
Chính sách giảm lãi suất cũng cần được theo dõi bằng kết quả thực tế. Ảnh: TL

Khơi thông dòng vốn để tạo nền tảng tăng trưởng

Từ những vấn đề trên, có thể thấy tháo gỡ nút thắt chi phí vốn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chủ thể. Không nên xem tăng trưởng tín dụng là thước đo duy nhất của khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Điều quan trọng hơn là nguồn vốn được phân bổ đến đâu, phục vụ hoạt động gì và tạo ra bao nhiêu giá trị.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực của toàn nền kinh tế. Muốn đạt được mục tiêu đó, cần tạo môi trường để doanh nghiệp không chỉ vay được vốn, mà còn có cơ hội đầu tư, sản xuất, bán hàng và thu hồi vốn.

Khi các kênh dẫn vốn được khai thông, chính sách hỗ trợ đúng trọng tâm và doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, chi phí vốn mới có thể giảm theo hướng bền vững, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Đó cũng là cơ sở để chuyển từ những cam kết giảm lãi suất trên giấy tờ sang hỗ trợ thực chất cho nền kinh tế. Khi doanh nghiệp có thể vay vốn với chi phí hợp lý, duy trì dòng tiền và chủ động kế hoạch đầu tư, nguồn vốn ngân hàng mới phát huy đầy đủ vai trò thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tạo động lực cho tăng trưởng.

Thống đốc: Giảm lãi suất cho vay áp dụng cả với dư nợ hiện hữu và khoản vay mới

Tại cuộc họp triển khai công tác ngân hàng ngày 19/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, trong bối cảnh nhiều nền kinh tế từ châu Âu đến Mỹ chịu sức ép lạm phát, việc điều hành lãi suất đang đối mặt với nhiều thách thức. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới để có điều chỉnh phù hợp, hỗ trợ thực chất cho nền kinh tế.

Theo ông Ấn, Ngân hàng Nhà nước nhiều lần yêu cầu các ngân hàng thương mại cân đối giữa việc hỗ trợ nền kinh tế và bảo đảm an toàn hệ thống, nhất là trong điều hành lãi suất. Với mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 5% theo yêu cầu của Quốc hội, chính sách lãi suất phải phù hợp với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô.

Để giảm lãi suất cho vay, đặc biệt đối với các lĩnh vực ưu tiên, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục tiết giảm chi phí và chia sẻ một phần lợi nhuận. Trong đó, lãi suất huy động là cấu phần chi phí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giảm lãi suất cho vay.

“Nếu chúng ta cứ để lãi suất huy động tăng thì chắc chắn không có cơ sở để giảm lãi suất cho vay”, ông Ấn nói, đồng thời cho biết Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất huy động.

Bên cạnh đó, các ngân hàng phải cân đối lợi nhuận để giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Chính sách này cần áp dụng cả với dư nợ hiện hữu và khoản vay mới.

Thống đốc lưu ý việc giảm lãi suất không áp dụng đồng loạt cho tất cả lĩnh vực, mà tập trung vào các đối tượng ưu tiên. Theo ông, sự chia sẻ của hệ thống ngân hàng chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn, qua đó đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế.

Nổi bật
      Mới nhất
      Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số - Kỳ cuối: Phối hợp chính sách, tái cấu trúc dòng tiền để giảm áp lực vốn
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO