Nông nghiệp thông minh

Kháng thể cho vịt, ngan thu 12 tỷ đồng: Bài học thương mại hóa kết quả nghiên cứu nông nghiệp

Kim Ngọc • 27/10/2026 18:23

Kháng thể IgY từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã ra thị trường và mang về khoảng 12 tỷ đồng. Con đường từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp spin-off vẫn còn nhiều nút thắt về định giá và vốn.

Khoảng 12 tỷ đồng doanh thu, trong đó khoảng 5% quay về làm kinh phí nghiên cứu. Đó là kết quả từ nhóm sản phẩm kháng thể IgY cho vịt, ngan, một công nghệ khởi nguồn trong phòng thí nghiệm của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Câu chuyện được GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chia sẻ tại hội nghị về khoa học công nghệ trong nông nghiệp ngày 27/10 ở Hà Nội.

Kháng thể cho vịt, ngan thu 12 tỷ đồng: Bài học thương mại hóa kết quả nghiên cứu nông nghiệp
GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Khương Trung.

Ở nhiều nơi, kết quả nghiên cứu vẫn dừng ở đề tài và báo cáo. Vì thế, trường hợp của Học viện được các đại biểu chú ý. Nó cho thấy thương mại hóa kết quả nghiên cứu là việc làm được. Nó cũng cho thấy những nút thắt còn phải gỡ.

Kháng thể IgY: Nền tảng một thập kỷ nghiên cứu

Theo báo cáo của Học viện, giai đoạn 2016-2026, đơn vị có 208 sản phẩm khoa học công nghệ được đăng ký sở hữu trí tuệ, công nhận lưu hành hoặc công nhận tiến bộ kỹ thuật. Trong đó có 10 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích và 25 bằng bảo hộ giống cây trồng. Có 128 giống cây trồng được công nhận lưu hành, 42 tiến bộ kỹ thuật và 3 giống vật nuôi.

Học viện có 52 phòng thí nghiệm và 46 nhóm nghiên cứu mạnh. Các nhóm này theo đuổi những hướng công nghệ như chỉnh sửa hệ gen CRISPR/Cas9, vắc-xin, kháng thể, thực khuẩn thể và enzyme. Một số kết quả đã đi vào thực tiễn, như giống bò Vàng chuyên thịt tạo ra bằng công nghệ chỉnh sửa gen. Ngoài ra còn có bộ kít chẩn đoán nhanh bệnh tai xanh, dịch tả lợn châu Phi và que thử thai cho bò.

18-jpg.jpg
Cán bộ, giảng viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu khoa học. Ảnh: HVNN

Vắc-xin phòng dịch tả lợn châu Phi của Học viện đang được khảo nghiệm. Kết quả bước đầu cho thấy khả năng tạo đáp ứng miễn dịch và bảo hộ lợn trước virus thử thách trong điều kiện thực nghiệm. Một chủng virus phục vụ chế tạo vắc-xin đã được gửi hồ sơ đăng ký sáng chế tại Mỹ.

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường

Hành trình thương mại hóa của Học viện bắt đầu từ năm 2015, khi Trung tâm Ươm tạo Công nghệ Nông nghiệp (CATI) ra đời. Sau 5 năm, trung tâm hỗ trợ ươm tạo 30 công nghệ và xây dựng danh mục hơn 120 sản phẩm tiềm năng.

Từ năm 2024, Học viện hợp tác với Công ty Cổ phần Công nghệ sinh phẩm thú y VNUA. Hai bên cùng hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thử nghiệm thị trường. Quy trình công nghệ là chế phẩm kháng thể IgY dùng để phòng và điều trị bệnh do Circovirus và virus Tembusu trên vịt, ngan. Các sản phẩm mang nhãn Ig1 gồm Ig1 Duck RAECSA, Ig1 Duck RAECO-V, Ig1 Duck REPATEM, cùng các dòng cho gà và lợn.

Đến nay, doanh thu từ các sản phẩm này đạt khoảng 12 tỷ đồng. Doanh nghiệp đóng góp lại cho Học viện khoảng 5% doanh thu. Khoản thu này giúp nhà trường có nguồn lực tiếp tục nghiên cứu. Với Học viện, nghiên cứu vì thế không chỉ tạo sản phẩm phục vụ sản xuất mà còn tạo nguồn thu để tái đầu tư.

9 doanh nghiệp spin-off và giấc mơ “thung lũng thực phẩm”

Từ thành công bước đầu, Học viện đang triển khai thành lập 9 doanh nghiệp spin-off. Đây là các doanh nghiệp hình thành trên cơ sở công nghệ và tài sản trí tuệ của nhà trường, kết hợp vốn, năng lực quản trị và thị trường của đối tác. Các lĩnh vực gồm dược và mỹ phẩm, thú y và thủy sản, chế phẩm xử lý môi trường, giống cây trồng, cơ điện tự động hóa, hoa cây cảnh và cả thương mại điện tử nông sản.

Học viện lấy cảm hứng từ mô hình “Food Valley” của Đại học Wageningen (Hà Lan). Đây là hệ sinh thái nơi trường đại học, doanh nghiệp và phòng thí nghiệm chia sẻ cùng một không gian đổi mới sáng tạo. Học viện dự kiến quy hoạch một khu vực tập trung doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp khoa học công nghệ và các phòng lab dùng chung.

Tuy nhiên, theo báo cáo của Học viện, phần lớn mô hình spin-off hiện vẫn ở giai đoạn chuẩn bị. Các hồ sơ thành lập đã được gửi đến Sở Tài chính Hà Nội. Nhưng bộ phận đăng ký doanh nghiệp yêu cầu phải có đơn vị định giá độc lập. Học viện đã có văn bản làm rõ các yêu cầu này.

Vướng mắc xuất phát từ sự thiếu đồng nhất giữa các văn bản. Nghị định số 267/2025/NĐ-CP cho phép tổ chức được giao quyền tự quyết định hình thức, phương án, giá và phân chia lợi nhuận khi thương mại hóa. Trong khi đó, Nghị định số 125/2026/NĐ-CP ngày 6/4/2026 quy định việc thẩm định giá tài sản trí tuệ, công nghệ phải thực hiện thông qua doanh nghiệp thẩm định giá.

Học viện còn chỉ ra một nỗi e ngại có thật. Định giá cao thì khó bán, định giá thấp thì rủi ro thất thoát tài sản. Người chịu trách nhiệm vì thế dễ chọn cách đứng ngoài.

nckh-sv-01.jpg
GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam ấn tượng với các sản phẩm khoa học công nghệ của sinh viên Học viện. Ảnh: P.V

6 nhóm điểm nghẽn

Từ thực tiễn, Học viện nhận diện sáu nhóm điểm nghẽn trong thương mại hóa. Khoảng cách giữa kết quả nghiệm thu và sản phẩm thương mại còn lớn. Nhiều công nghệ cần thêm kinh phí sản xuất thử, đánh giá hiệu lực, an toàn và tiêu chuẩn hóa. Quyền sở hữu, định giá và góp vốn bằng tài sản trí tuệ còn vướng. Quy trình thử nghiệm, công nhận và lưu hành cho các sản phẩm công nghệ sinh học mới cũng chưa theo kịp đặc điểm công nghệ.

Với những công nghệ như vắc-xin, kháng thể, thực khuẩn thể, theo Học viện, phòng thí nghiệm đã có nhưng thiếu khâu ở giữa. Đó là sản xuất thử quy mô pilot đạt chuẩn GMP, đăng ký lưu hành và nguồn vốn để đi hết chặng đường.

Bức tranh chung của ngành cũng cho thấy khoảng cách này. Theo Bộ Công an, 341 trong 451 sản phẩm khoa học công nghệ nông nghiệp vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, khoảng 76%. Một báo cáo tại hội nghị cho biết chỉ khoảng 12% đề tài nghiên cứu trong 5 năm qua có kết nối với doanh nghiệp.

Lãnh đạo học viện đề xuất đổi cách làm nghiên cứu. Nhiệm vụ cần xuất phát từ nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu đặt hàng, cùng đầu tư và hoàn thiện sản phẩm. Tiêu chí đánh giá cũng cần chú trọng mức độ hoàn thiện công nghệ và khả năng thương mại hóa, bên cạnh công bố khoa học.

Với Chính phủ, Học viện đề nghị xây dựng chương trình hỗ trợ quốc gia cho các trung tâm ươm tạo tại trường đại học. Cần có cơ chế tài chính cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ sau nghiên cứu, khuyến khích doanh nghiệp cùng đầu tư.

Với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Học viện đề nghị hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật, phương pháp đánh giá và quy trình đăng ký cho giống chỉnh sửa gen, vắc-xin, sinh phẩm và chế phẩm thực khuẩn thể. Bộ cũng được đề nghị xem xét hỗ trợ thí điểm thương mại hóa một số công nghệ sinh học thế hệ mới.

Với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Học viện đề nghị hướng dẫn cụ thể, dễ thực hiện về phương pháp định giá và mức giá tối thiểu của công nghệ. Học viện cũng đề xuất cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho thành viên hội đồng định giá nếu thực hiện đúng hướng dẫn, cùng cơ sở dữ liệu về giá công nghệ đã chuyển giao để làm căn cứ tham khảo.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện cơ chế thử nghiệm, chuyển giao, thương mại hóa và quy định định giá tài sản sở hữu trí tuệ. Bộ phải hoàn thiện danh mục các bài toán lớn trước ngày 15/12. Những bài học như của Học viện có thể là gợi ý cho danh mục đó. Một sản phẩm ra được thị trường là chưa đủ. Cần có cơ chế để hàng trăm kết quả nghiên cứu khác cũng đi được con đường ấy.

Nổi bật
      Mới nhất
      Kháng thể cho vịt, ngan thu 12 tỷ đồng: Bài học thương mại hóa kết quả nghiên cứu nông nghiệp
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO