Nhịp đập công nghệ

Kinh tế sinh học có thể đóng góp cho Việt Nam khoảng 200 tỉ USD

Tuyết Nhung • 15/10/2026 18:28

Công nghệ sinh học đang được kì vọng trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới quan trọng nhất của Việt Nam trong kỉ nguyên số.

Công nghệ sinh học: "Đòn bẩy" cho nền kinh tế sinh học trăm tỉ USD

Tuy nhiên, để hiện thực hóa tham vọng đưa ngành này đóng góp tới 15% GDP vào năm 2045 như mục tiêu tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, nền kinh tế đang đứng trước hai bài toán lớn cần giải quyết đồng thời: Xây dựng phương pháp luận đo lường thống kê chuẩn xác và tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn ở khâu thương mại hóa.

Tại Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số" chiều nay 15/10, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện cơ quan quản lí đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc, đa chiều nhằm nhận diện đúng quy mô và khai mở tiềm năng của lĩnh vực này.

Bắt đầu bài tham luận "Đo lường đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP Việt Nam: Từ kinh nghiệm quốc tế đến Khung thống kê 3 tầng hướng tới mục tiêu 2030", ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê KH-CN (Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học - NASTIS) nhấn mạnh: Công nghệ sinh học là một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với công tác thống kê quốc gia bởi tính chất tác động xuyên suốt, hiện diện và đan xen trong rất nhiều ngành kinh tế cũng như chuỗi giá trị sản phẩm.

"Nói gì thì nói, làm công tác thống kê, nôm na là chúng tôi đi đếm chứng từ từ các viện, trường, công ty, quỹ. Nhưng muốn đếm đúng thì trước hết phải định nghĩa được nó. Cách định nghĩa sẽ quyết định cách xác định công nghiệp công nghệ sinh học và rộng hơn là nền kinh tế sinh học", ông Nghĩa nhấn mạnh.

ong-bui-duy-nghia-truong-phong-thong-ke-kh-cn-vien-thong-ke-va-danh-gia-khoa-hoc-cuc-thong-tin-thong-ke-va-danh-gia-khoa-hoc-nastis-(1).jpg
Ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS). Ảnh: Hà Tuấn.

Hiện nay, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) là đơn vị hiếm hoi đưa ra định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về kinh tế sinh học, bao gồm các hoạt động phát minh, phát triển, sản xuất và sử dụng các sản phẩm, quá trình sinh học.

Ngay cả những quốc gia có nền khoa học phát triển hàng đầu như Mỹ hay Nhật Bản cũng gặp nhiều vướng mắc khi xác định ranh giới khái niệm, dẫn đến việc kết quả thống kê trong các báo cáo chính thức của họ có sự chênh lệch đáng kể.

Để minh họa cho tính chất phức tạp này, đại diện NASTIS đã đưa ra hai ví dụ mang tính thực tiễn cao. Ví dụ về vắc xin mRNA, để tạo ra các sáng chế cốt lõi cho một liều vắc xin Pfizer giá 100.000 đồng, chi phí R&D ước tính khoảng 20 triệu USD.

Tuy nhiên, để đưa sản phẩm đó ra thị trường tiêu dùng quy mô lớn, người ta phải đầu tư tới khoảng 200 tỉ USD cho hệ thống nhà máy sản xuất, công nghệ bảo quản lạnh sâu và hạ tầng phân phối. Vấn đề đặt ra là phần giá trị hạ tầng khổng lồ đó có được tính vào nền kinh tế sinh học hay không?

Ví dụ về xăng sinh học E5, E10, tỉ trọng giá trị sinh học trực tiếp chỉ chiếm một phần nhỏ trong mỗi lít xăng. Dù vậy, việc bắt buộc chuyển đổi nhiên liệu này lại kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hạ tầng vận chuyển, lưu trữ, đồng thời đem lại lợi ích to lớn về bảo vệ môi trường và giảm thiểu khai thác tài nguyên không tái tạo. Tuy nhiên, những giá trị gián tiếp này chưa hề được phản ánh trực tiếp trong chỉ số GDP truyền thống.

Chính sự khác biệt trong tư duy định nghĩa đã dẫn đến sự phân hóa lớn về số liệu thống kê trên thế giới. Tỉ trọng kinh tế sinh học ở Hoa Kỳ dao động từ 2 - 5% GDP, ở Liên minh châu Âu (EU) là khoảng 5% (có báo cáo tính rộng lên tới 15%), còn tại Trung Quốc con số này lên tới 16% GDP do quốc gia này tính toàn bộ tri thức truyền thống và tri thức nông nghiệp vào công nghệ sinh học.

Điển hình nhất là trường hợp của New Zealand: Nếu chỉ đo lường hoạt động công nghệ sinh học "lõi", tỉ trọng đóng góp chỉ vỏn vẹn 0,1% GDP. Nhưng nếu mở rộng đo lường theo quy mô kinh tế sinh học, con số nhảy vọt lên 17% GDP, tức gấp tới 170 lần.

Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu tại NASTIS đã dự thảo và đề xuất áp dụng thử nghiệm phương pháp đo tỷ trọng sinh học thông qua giá trị gia tăng. Căn cứ của phương pháp này dựa trên Hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam (VSIC) do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tham mưu ban hành.

Cụ thể, đối với các hoạt động công nghệ sinh học cốt lõi, nhóm đề xuất tính 100% giá trị gia tăng vào ngành. Đối với các công đoạn phụ trợ như máy móc bảo quản hay khâu phân phối thương mại hóa, hệ số đóng góp sẽ được phân bổ tương ứng dựa trên tỷ lệ đóng góp của tài sản trí tuệ và giá trị thương hiệu sinh học.

Theo các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngành công nghệ sinh học phải phấn đấu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và từ 10–15% GDP vào năm 2045. Ông Bùi Duy Nghĩa nhẩm tính: Với quy mô nền kinh tế Việt Nam dự kiến đạt khoảng 3.000 tỉ USD vào giữa thế kỷ này, phần giá trị do kinh tế sinh học tạo ra phải đạt con số khổng lồ khoảng 200 tỉ USD.

Đây thực sự là một áp lực rất lớn đối với ngành thống kê, đòi hỏi phải có sự đồng hành, hỗ trợ tích cực từ các nhà khoa học, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách trong việc nhận diện chính xác bản chất từng ngành, lĩnh vực và sản phẩm liên quan.

Nhận diện 3 nút thắt và giai đoạn "thung lũng chết"

Bên cạnh câu chuyện đo lường, vấn đề cốt lõi quyết định sự phát triển của ngành chính là năng lực chuyển hóa nghiên cứu thành sản phẩm thương mại.

PGS. TS Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam (VAST) đã chỉ ra những thực trạng đáng suy ngẫm trong hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học tại Việt Nam.

phi-quyet-tien-ok(1).jpg
PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam (VAST).

Mặc dù Việt Nam sở hữu nhiều trung tâm nghiên cứu uy tín như Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Khoa Sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) cùng nhiều cơ sở đào tạo lớn, nhưng khoảng trống giữa phòng thí nghiệm và thị trường vẫn còn rất xa. Thực tiễn tổng kết cho thấy 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay bao gồm:

Thiếu cơ chế đặt hàng dài hạn: Các đề tài nghiên cứu còn phân mảnh, thiếu sự đầu tư tập trung và bài bản để tạo ra những sản phẩm ứng dụng hoàn chỉnh có khả năng cạnh tranh cao.

Liên kết Viện - Trường thiếu tính thực chất: Mặc dù đã có các mạng lưới kết nối giữa viện nghiên cứu và trường đại học, nhưng sự hợp tác trong thời gian qua còn mang tính hình thức, chưa tạo ra các giá trị gia tăng thiết thực cho xã hội.

Nút thắt mở rộng quy mô (Giai đoạn "thung lũng chết"): Nhiều sản phẩm đạt kết quả rất xuất sắc ở quy mô phòng thí nghiệm, nhưng khi chuyển giao cho doanh nghiệp để sản xuất thương mại thì bị chững lại.

Để vượt qua "thung lũng chết" này, sản phẩm bắt buộc phải trải qua các bước chuẩn hóa, nâng cấp quy mô thử nghiệm bán công nghiệp, định giá tài sản trí tuệ và thương mại hóa thành các sản phẩm tài chính.

"Một quy trình hoàn chỉnh để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất phải trải qua các bước bài bản: từ khởi đầu nghiên cứu, xác định công nghệ cốt lõi, chuẩn hóa quy trình, thử nghiệm ở quy mô bán công nghiệp trước khi chuyển giao cho doanh nghiệp tiếp nhận và điều chỉnh.

Quá trình này tương tự như việc sản xuất một chiếc điện thoại thông minh sau một thời gian vận hành phải liên tục đánh giá và nâng cấp tính năng. Nhu cầu đặt hàng và phản hồi từ thị trường chính là 'kim chỉ nam' giúp định vị lại các ưu tiên R&D", PGS.TS. Phí Quyết Tiến.

Nổi bật
      Mới nhất
      Kinh tế sinh học có thể đóng góp cho Việt Nam khoảng 200 tỉ USD
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO