Kinh tế

Mặt bằng lãi suất đồng Việt Nam vì sao chưa thể hạ nhiệt?

Thế Lâm 19/08/2026 09:30

Tháng 6 và tháng 7 vừa qua, nhiều biến số quan trọng của thị trường đã thay đổi đáng kể. Thanh khoản hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, một số quy định điều hành được điều chỉnh theo hướng nới lỏng hơn.

Nhiều chính sách nới – mở thanh khoản cho hệ thống ngân hàng

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nới thêm lượng tiền gửi Kho bạc (TGKB) vào LDR, hay cơi nới tỉ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SFL), tỉ giá USD/VND ổn định quanh vùng 26.200 đồng/1 USD và dòng vốn có dấu hiệu cải thiện. Báo cáo mới đây từ Công ty CP chứng khoán Rồng Việt (VDSC) còn cho biết, gần đây nhất là đề xuất của Bộ Tài chính không áp dụng trần tỉ lệ TGKB sang hệ thống ngân hàng từ nguồn ngân sách nhàn rỗi.

Có thể thấy, những điều chỉnh về chính sách nói trên đều theo hướng gia tăng nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng, giúp tháo gỡ bớt áp lực thanh khoản.

Tuy nhiên trong tháng 7, lượng thanh khoản được bơm qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lại giảm dần. Vì thế, mức độ dư thừa thanh khoản vẫn chưa đủ lớn để kéo mặt bằng lãi suất xuống một cách bền vững.

Theo VDSC, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã giảm đáng kể, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất đã bước vào xu hướng giảm rõ ràng (đặc biệt là lãi suất huy động trên thị trường 1). Điều này cho thấy những yếu tố đang chi phối lãi suất không chỉ nằm ở thanh khoản ngắn hạn, mà có thể xuất phát từ các vấn đề mang tính cấu trúc trong bảng cân đối của hệ thống ngân hàng.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Việc nới các tỉ lệ quản lý chưa làm thay đổi đáng kể cung vốn thực tế trên thị trường

VDSC nhận định, áp lực có thể không còn nằm ở các tỉ lệ quản lý. Việc mở rộng phạm vi tính tiền gửi Kho bạc có kỳ hạn (lên mức 50%) vào LDR giúp nhiều ngân hàng giảm áp lực tuân thủ các chỉ tiêu an toàn. Tuy nhiên, thay đổi này chưa đồng nghĩa với việc nguồn vốn khả dụng của toàn hệ thống được cải thiện tương ứng. Trên thực tế, nhu cầu giao dịch nguồn vốn giữa các ngân hàng có xu hướng giảm, khiến hiệu ứng lan tỏa về thanh khoản thấp hơn kỳ vọng. Nói cách khác, việc nới các tỉ lệ quản lý chưa làm thay đổi đáng kể cung vốn thực tế trên thị trường. Tuy nhiên, việc bổ sung nguồn TGKB sẽ hỗ trợ tích cực để giảm lãi suất cho vay.

Sự chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn vẫn sâu sắc. Theo VDSC, đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mặt bằng lãi suất hiện nay. Nhiều khoản tín dụng bất động sản vẫn đang trong quá trình cơ cấu hoặc gia hạn. Các tài sản này tiếp tục được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán nhưng chưa tạo ra dòng tiền và lợi nhuận tương ứng. Hệ quả là các ngân hàng phải huy động nguồn vốn trung và dài hạn lớn hơn để tài trợ cho các khoản mục này, trong khi hiệu quả sử dụng vốn lại suy giảm (vòng quay tín dụng chậm). Trong bối cảnh đó, việc nới SFL chỉ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn, nhưng chưa xử lý được nhu cầu vốn mang tính cấu trúc.

Diễn biến lãi suất trên thị trường cũng phản ánh điều này khi không chỉ các kỳ hạn 12 tháng mà cả nhóm kỳ hạn 3–6 tháng đều ghi nhận mức tăng đáng kể. Điều đó cho thấy các ngân hàng đang chủ động điều chỉnh cơ cấu huy động nhằm tối ưu hóa nguồn vốn thay vì chỉ cạnh tranh ở kỳ hạn dài như trước đây. Nói cách khác, làn sóng tăng lãi suất huy động hiện nay không nhằm mục đích chỉ để thu hút thêm lượng huy động mà là thay đổi hành vi kỳ hạn của tiền gửi nhằm chuyển dịch nguồn huy động sang các kỳ hạn trung và dài.

Dòng vốn vào chưa đủ lớn để tạo thay đổi về trạng thái thanh khoản

Thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực liên quan đến dòng vốn ngoại cũng như tiến độ giải ngân (vay offshore của các ngân hàng hay như nguồn FDI thực hiện cao kỷ lục).

Tuy nhiên, xét trên quy mô toàn hệ thống, lượng vốn này vẫn chưa đủ lớn để tạo ra sự thay đổi đáng kể đối với trạng thái ngoại hối và thanh khoản. Việc vay offshore vừa qua nhằm cân đối nguồn huy động có thể sẽ đối mặt chi phí ngày càng cao trong thời gian tới. Đồng thời, NHNN sẽ xem xét thận trọng khi hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến tỉ giá.

Trong ngắn hạn, NHNN vẫn có thể đóng vai trò chủ động hơn thông qua các công cụ điều tiết thanh khoản nhằm ổn định kỳ vọng của thị trường. Một chính sách điều hành nhất quán sẽ giúp giảm biến động trên thị trường liên ngân hàng (đường cong lãi suất ngắn hạn hiện nay biến động mạnh theo cung cầu thay vì định hướng chính sách) và từng bước kéo mặt bằng lãi suất ngắn hạn xuống mức hợp lý hơn.

Từ những phân tích trên, VDSC cho rằng điều kiện vĩ mô cho việc giảm lãi suất đã cải thiện đáng kể so với hai tháng trước, đặc biệt là ở khía cạnh tỉ giá và thanh khoản ngắn hạn. Tuy nhiên, điều kiện đó vẫn chưa đủ để hình thành một chu kỳ giảm lãi suất bền vững (kết hợp với giải ngân đầu tư công tuy có cải thiện nhưng vẫn chậm).

Bên cạnh đó, chênh lệch giữa tỉ giá mua của NHNN và tỉ giá trung tâmđang tiệm cận mức 5%, đây được xem như tín hiệu để kích hoạt công cụ mua giao ngay ngoại tệ của NHNN. Nếu NHNN sử dụng công cụ này sẽ cải thiện mạnh mẽ thanh khoản hệ thống ngân hàng và mang nhiều ý nghĩa trong điều hành chính sách tiền tệ. Ở góc độ dài hạn, yếu tố quyết định vẫn nằm ở quá trình xử lý các tài sản có hiệu quả thấp, đặc biệt là các khoản tín dụng bất động sản đang được cơ cấu trong hệ thống ngân hàng.

Nổi bật
      Mới nhất
      Mặt bằng lãi suất đồng Việt Nam vì sao chưa thể hạ nhiệt?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO