Nhịp đập công nghệ

Mỹ 'liều lĩnh' đặt cơ sở hạt nhân giữa căn cứ: Nhu cầu có sức nặng vượt rủi ro?

Minh Trí 04/09/2026 10:01

Cuối tháng 8 vừa qua, Lục quân Mỹ đã trao hợp đồng trị giá 2,2 tỉ USD cho 5 công ty để lắp đặt lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ tại 5 căn cứ quân sự trong nước, với hạn chót trước 30/9/2028. Chương trình mang tên Janus sẽ đưa lò phản ứng tới Fort Bragg, Fort Campbell, Fort Hood, Fort Benning và Fort Drum.

Đặt trong bối cảnh chiến lược, Janus còn là nước đi quan trọng của quân đội Mỹ nhằm các tách các căn cứ quân sự khỏi lưới điện dân sự, bảo vệ hạ tầng quân sự trong thời đại chiến tranh công nghệ cao.

"Cơn khát" điện chưa từng có

Janus có xuất phát điểm từ tháng 5/2025. Tổng thống Donald Trump khi đó ký Sắc lệnh 14299, yêu cầu Bộ trưởng Lục quân lập một chương trình chính thức về sử dụng năng lượng hạt nhân tại các căn cứ trong nước, với đúng hạn chót 30/9/2028. Cùng sắc lệnh này, Bộ Năng lượng phải giải phóng tối thiểu 20 tấn uranium làm giàu thấp nồng độ cao (HALEU) cho các lò phản ứng hạt nhân module nhỏ. Trước kia, nguồn cung tư nhân gần như không thể cung cấp được loại nhiên liệu phóng xạ đặc thù này.

Một sắc lệnh khác giới hạn quy trình cấp phép của Ủy ban Điều tiết Hạt nhân xuống còn 18 tháng, thay vì kéo dài nhiều năm như trước. Nói cách khác, 2 nút thắt từng khiến các dự án lò hạt nhân cỡ nhỏ đã được chính quyền tháo gỡ bằng mệnh lệnh hành pháp.

Đằng sau động thái này là một áp lực dân sự khổng lồ. Chính quyền Tổng thống Donald Trump đặt mục tiêu nâng công suất điện hạt nhân của Mỹ lên 400 gigawatt vào năm 2050, tăng 50% so với mục tiêu thời Tổng thống Joe Biden. Phần lớn nhu cầu này để nuôi các trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo đang ngốn điện với tốc độ chưa từng có. Nhờ đó, nhu cầu dân sự này cũng tạo đủ lực đẩy để kéo theo ứng dụng quân sự.

Lò phản ứng hạt nhân module cỡ nhỏ
Minh họa về một lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ. Ảnh: NuScale

Nhưng lý do khiến quân đội sốt sắng không chỉ nằm ở chuyện tận dụng làn sóng chính sách. Jeff Waksman, Phó trợ lý Bộ trưởng Lục quân phụ trách năng lượng, cho biết: "Lưới điện nội địa của chúng ta có thể gặp rủi ro trong một cuộc xung đột". Đây là một khẳng định đáng chú ý, cho thấy hạ tầng điện của các căn cứ lại đang kết nối quá sâu vào lưới điện dân sự, dễ trở thành mục tiêu bị vô hiệu hóa trước hoặc trong một cuộc chiến.

Bên cạnh Lục quân Mỹ, Không quân Mỹ cũng đang chạy chương trình song song mang tên ANPI, chọn 3 công ty cho 3 căn cứ. Điều này cho thấy năng lượng hạt nhân đang là một cuộc dịch chuyển học thuyết trên toàn quân đội Mỹ.

Quan ngại về những “vết xe đổ” trong quá khứ

Trong quá khứ, quân đội Mỹ đã từng thử nghiệm ý tưởng lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ. Tuy nhiên, dự án đã không có kết thúc tốt đẹp.

Năm 1960, Lục quân Mỹ đã triển khai một lò phản ứng PM-2A tại Camp Century, một căn cứ tại Greenland. Lò đi vào vận hành cùng năm đó và cấp điện ổn định cho căn cứ trong suốt 2 năm.

PM-2A lò phản ứng hạt nhân Mỹ
Lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ PM-2A ở Greenland. Ảnh: US. Army

Nhưng lò PM-2A bị phát hiện rò rỉ neutron ở mức nguy hiểm, buộc binh sĩ phải tự chế tấm chắn bằng chì và dùng thùng phuy chứa băng trộn mùn cưa để giảm phơi nhiễm phóng xạ. Nước làm mát nhiễm xạ ngấm vào lớp băng, để lại đồng vị phóng xạ tích tụ nhiều năm sau đó.

Giới hạn công nghệ thế kỉ trước dẫn tới hàng loạt sự cố của các lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ. Lò SL-1 ở Idaho phát nổ trong lúc tiếp nhiên liệu, khiến 3 người thiệt mạng. Lò PM-3A tại Nam Cực gặp 438 lần trục trặc trong 10 năm vận hành. Lò SM-1 ở Fort Belvoir, Virginia có chi phí xây dựng 2 triệu USD khi đó, nhưng tiêu tốn khoảng 68 triệu USD cho dọn dẹp.

Đến cuối thập niên 1960, quân đội Mỹ âm thầm từ bỏ các chương trình lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ hoặc di động. Lịch sử không mấy êm đẹp đó khiến sự hoài nghi về việc đưa lò phản ứng cỡ nhỏ trở lại các căn cứ kéo dài cho tới nay.

Giới chức Mỹ trấn an rằng về mặt thiết kế, các lò phản ứng hạt nhân trong chương trình Janus sẽ do nhà thầu vận hành thay vì giao cho binh sĩ. Nhiên liệu phóng xạ cũng không phải là uranium làm giàu cao như PM-2A từng dùng. Lò sẽ được chế tạo theo dạng module, lắp ráp sẵn tại nhà máy thay vì phải triển khai tại hiện trường.

Nhưng thiết kế an toàn hơn không đồng nghĩa với việc xóa bỏ được lỗ hổng cốt lõi mà mục đích của chương trình tạo ra. Alan Kuperman, điều phối viên Dự án Ngăn ngừa Phổ biến Vũ khí Hạt nhân tại Đại học Texas ở Austin, cảnh báo rằng một cuộc tấn công vào lò phản ứng cỡ nhỏ dễ làm phát tán phóng xạ.

Ý tưởng đặt một nguồn phóng xạ ngay trong khu vực có khả năng bị tấn công lại tạo ra một mục tiêu rất hấp dẫn, một khi chiến tranh tổng lực nổ ra. Do đó, các đồng minh chiến lược của Mỹ có vị trí địa lý trong tầm tấn công của các đối thủ cũng nhiều khả năng sẽ từ chối cho triển khai loại lò này trên lãnh thổ của mình.

Câu chuyện càng phức tạp hơn ở khía cạnh pháp lí. Kenneth Luongo, Chủ tịch Partnership for Global Security, chỉ ra rằng Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) không có thẩm quyền giám sát các lò phản ứng hạt nhân quân sự.

Lợi ích quá lớn để có thể bỏ qua

Rủi ro của năng lượng hạt nhân trong bối cảnh đối thủ không thiếu các phương thức tấn công tầm xa chính xác cao là chuyện không phải bàn cãi. Tuy nhiên, nhu cầu của chiến tranh công nghệ cao là thứ khiến canh bạc này khó có thể bị từ chối.

Ưu thế sống còn về quân sự ngày nay nằm ở khả năng cảnh giới, chỉ huy kiểm soát, tác chiến điện tử và cả AI. Tất cả đều cần nguồn điện liên tục, ổn định. Hậu quả có thể khôn lường nếu nếu nguồn điện bị cắt dù chỉ vài giờ.

Chính vì vậy, rủi ro phóng xạ dù có thật, vẫn đang bị đặt lên bàn cân với một rủi ro Lầu Năm Góc coi là lớn hơn: Vũ khí tối tân nhất vẫn có thể vô dụng chỉ vì mất điện. Với logic đó, cái giá phải trả cho một lò phản ứng có thể bị tấn công vẫn rẻ hơn cái giá của một đội quân công nghệ cao bị vô hiệu hóa. Đó là phép tính khiến quân đội Mỹ sẵn sàng đặt cược lần hai, bất chấp lịch sử.

Nổi bật
      Mới nhất
      Mỹ 'liều lĩnh' đặt cơ sở hạt nhân giữa căn cứ: Nhu cầu có sức nặng vượt rủi ro?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO