Nhân lực khoa học công nghệ ĐBSCL: Đất lành không giữ được chim!
Được kỳ vọng là trung tâm khoa học công nghệ (KHCN) vùng, Cần Thơ vẫn chưa giữ chân được đội ngũ trí thức trẻ.

Từ chuyện chọn TP.HCM lập nghiệp của một kỹ sư công nghệ
Anh Hồ Thanh Tâm, quê TP.Cần Thơ, là sinh viên tốt nghiệp Khoa Công nghệ Thông tin (CNTT) K40, Trường đại học Cần Thơ (ĐHCT). Sau khi tốt nghiệp, anh Tâm quyết định lên TP.HCM tìm việc làm. Những ngày đầu, anh làm việc cho một doanh nghiệp công nghệ của Hàn Quốc với mức lương khởi điểm 8 triệu đồng/tháng. Sau một năm, thu nhập của anh tăng lên 12 triệu đồng/tháng. Một thời gian sau đó, anh chuyển sang làm cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam VNG, và hiện nay mức lương đã vượt hơn 40 triệu đồng/tháng.
Chia sẻ về lý do rời quê hương, anh Tâm cho biết mong muốn lớn nhất là tìm kiếm cơ hội thăng tiến, nâng cao thu nhập và được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp hơn.
Theo anh Tâm, với ngành CNTT, đặc biệt là lĩnh vực phần mềm, TP.HCM có nhiều doanh nghiệp, dự án lớn và cơ hội cọ xát thực tế. Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội là mức độ cạnh tranh vô cùng khốc liệt. “Muốn trụ lại, kỹ sư công nghệ phải thực sự giỏi nghề. Những ai không theo kịp sự thay đổi của công nghệ sẽ rất dễ bị đào thải”, anh Tâm nói.
Anh Tâm cho biết thêm, trong số 7 người bạn học cùng lớp đang làm việc tại TP.HCM, chỉ còn 2 người tiếp tục làm trong các khu công nghệ cao, số còn lại đã phải chuyển nghề.
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay thế nhiều công việc truyền thống của kỹ sư công nghệ, khiến ngay cả tại các trung tâm công nghệ lớn, những người không liên tục cập nhật kiến thức cũng buộc phải rời khỏi ngành. Trong khi đó, tại TP.Cần Thơ, do số lượng doanh nghiệp CNTT còn ít, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp phải làm trái ngành hoặc rời địa phương để tìm việc.

Vì sao đất lành không giữ được chim?
Theo chiến lược phát triển quốc gia đến năm 2030, TP.Cần Thơ được định vị là hạt nhân, trung tâm giáo dục, y tế và KHCN của toàn vùng Đồng bàng sông Cửu Long (ĐBSCL). Với sự hiện diện của ĐHCT – cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia – cùng hệ thống các viện nghiên cứu như Viện Lúa ĐBSCL, khu vực này được kỳ vọng trở thành trung tâm khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và thích ứng sinh thái.
Tuy nhiên, khi nhìn vào các số liệu thực tế, bức tranh nhân lực KHCN của TP.Cần Thơ lại cho thấy nhiều gam màu trầm. Theo các báo cáo thống kê gần đây, TP.Cần Thơ hiện có gần 9.000 nhân lực KHCN. Dù con số này không nhỏ, song chất lượng và cơ cấu nhân lực lại bộc lộ nhiều bất cập.
Trước hết, lực lượng nhân lực KHCN chủ yếu tập trung trong khu vực công lập, bao gồm các trường đại học, bệnh viện và cơ quan nhà nước. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp – nơi trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế – lại gần như “trắng” nhân lực công nghệ cao. Tỷ lệ nhân lực công nghệ làm việc trong doanh nghiệp tại Cần Thơ chỉ chiếm chưa đến 1%. Hệ quả là nhiều công trình nghiên cứu dù có giá trị học thuật cao nhưng khó ứng dụng vào thực tiễn sản xuất do thiếu đội ngũ kỹ sư tại doanh nghiệp để tiếp nhận và triển khai.
Bên cạnh đó, cơ cấu trình độ cũng bộc lộ khoảng trống lớn. So với Hà Nội và TP.HCM, tỷ lệ nhân lực có trình độ tiến sĩ tại ĐBSCL thấp hơn đáng kể. Phần lớn lực lượng lao động chỉ dừng lại ở trình độ đại học, chiếm hơn 70%. Đặc biệt, vùng đang thiếu nghiêm trọng các chuyên gia trong những lĩnh vực then chốt của cách mạng công nghiệp 4.0 như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, tự động hóa và công nghệ môi trường.
Có ba nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn nhân lực KHCN của vùng chưa thể phát huy hết tiềm năng.
Thứ nhất, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn yếu. Các vườn ươm doanh nghiệp, không gian làm việc chung và quỹ đầu tư mạo hiểm tại ĐBSCL còn rất hạn chế. Khi thiếu môi trường sáng tạo và khởi nghiệp, các nhà khoa học trẻ khó có điều kiện thử nghiệm ý tưởng và phát triển sự nghiệp.
Thứ hai, mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn khiêm tốn. Ngân sách dành cho R&D của vùng thấp hơn mặt bằng chung của cả nước, trong khi hạ tầng phòng thí nghiệm tại nhiều địa phương đã lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu công nghệ cao.
Thứ ba, cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh. Dù Cần Thơ và một số tỉnh như Đồng Tháp, An Giang đã ban hành chính sách thu hút nhân tài, nhưng chủ yếu mới dừng lại ở hỗ trợ tài chính ban đầu. Trong khi đó, điều các chuyên gia cần là môi trường làm việc tự do học thuật, lộ trình thăng tiến rõ ràng và cơ chế để sống được bằng chính các sản phẩm khoa học của mình.

Giải pháp giữ chân nhân lực công nghệ
PGS-TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện KHXH – Nam Bộ, cho rằng cần một cuộc cải cách toàn diện trong tư duy sử dụng nhân tài. Theo đó, mô hình liên kết “ba nhà” giữa nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp cần được triển khai thực chất. Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ”, đặt ra các bài toán lớn về biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn để doanh nghiệp và giới khoa học cùng tham gia giải quyết.
ĐBSCL cũng không nên chạy đua với TP.HCM trong lĩnh vực công nghệ phần mềm thuần túy, mà cần tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế như công nghệ nông nghiệp, công nghệ sinh học thích ứng môi trường và logistics xanh. Chính sách thu hút nhân tài cần chuyển từ “cho tiền” sang “tạo việc”, thông qua việc hình thành các khu đô thị khoa học, không gian nghiên cứu và cơ chế biệt phái nhà khoa học hỗ trợ doanh nghiệp.
Cuối cùng, đẩy mạnh số hóa đào tạo và hợp tác quốc tế, định vị ĐHCT là “trạm trung chuyển tri thức” của vùng, sẽ là chìa khóa để giữ chân và phát triển nguồn nhân lực KHCN. Nhân lực công nghệ không phải là chi phí, mà là khoản đầu tư sinh lời bền vững nhất cho tương lai của vùng đất Chín Rồng.


