PGS. TS Ngô Trí Long: Báo cáo 301 là cú dằn mặt về thuế quan
Cảnh báo rủi ro thuế quan, PGS. TS Ngô Trí Long khẳng định: Báo cáo 301 là liều thuốc đắng buộc doanh nghiệp chấm dứt tư duy lưu manh để kinh doanh tử tế.
Vừa qua, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã chính thức công bố báo cáo 301 năm 2026. Trong đó, tiếp tục liệt Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần theo dõi về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đáng chú ý, bản báo cáo này đi kèm với những cảnh báo đanh thép về khả năng khởi xướng các cuộc điều tra thương mại có thể dẫn đến áp đặt thuế quan trừng phạt.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang nỗ lực phục hồi, việc bị nêu tên trong Báo cáo 301 không chỉ là vấn đề uy tín quốc gia, mà còn là bài toán sống còn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Để làm rõ thực trạng này, Một Thế Giới đã có cuộc phỏng vấn với PGS. TS Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính), một chuyên gia hàng đầu về quản lý vĩ mô để phân tích về các kịch bản ứng phó trước sức ép từ phía Hoa Kỳ.
Áp lực vĩ mô từ "cú đòn" báo cáo 301
- Việc Việt Nam tiếp tục bị liệt vào danh sách của Báo cáo 301 đi kèm rủi ro về khả năng bị áp thuế quan rất cao. Ông có dự báo thế nào về kịch bản tăng trưởng kinh tế và áp lực lạm phát nếu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của chúng ta bị Mỹ áp thuế trừng phạt?

PGS. TS Ngô Trí Long: Nền kinh tế của chúng ta hiện nay có độ mở rất lớn, hội nhập là sống còn, phát triển hay không phụ thuộc hoàn toàn vào đó. Cho nên, cái nguy cơ từ Báo cáo 301 đúng là rất lớn. Khi chiến tranh, giá dầu tăng đã khiến vĩ mô bất ổn, giờ thêm một "cú đòn" thuế má đánh vào xuất nhập khẩu thì sẽ là thách thức cực đại.
Chúng ta phải nhìn vào thực tế: Một khi Mỹ áp thuế, nó sẽ tác động dây chuyền từ doanh nghiệp trong nước đến khối đầu tư nước ngoài. Tôi cho rằng kịch bản tăng trưởng sẽ bị kéo lùi đáng kể nếu không có phương án ứng phó kịp thời. Trước mắt, chúng ta phải tìm cách đàm phán, hứa hẹn và cam kết khắc phục để họ lùi lại hoặc nhẹ tay hơn.
Đồng thời, phải cấp bách chấn chỉnh nội tại để thể hiện thiện chí. Bài học từ những câu chuyện về rửa tiền hay thẻ vàng cá tra vẫn còn nguyên giá trị. Nếu chúng ta không đạt được tăng trưởng vì lý do khách quan này thì coi như đã cố gắng hết sức, nhưng về lâu dài, muốn vượt qua phải tôn trọng luật chơi, tôn trọng sự minh bạch của thị trường. Không thể "à uôm" ăn trộm ăn cắp kiểu lưu manh, cái thời đó qua rồi!
Ông đánh giá thế nào về tính khách quan của việc USTR đưa Việt Nam vào danh sách này? Liệu đây thuần túy là vấn đề kỹ thuật sở hữu trí tuệ hay là một công cụ chính trị thương mại của Mỹ?
PGS. TS Ngô Trí Long: Thực ra mình cũng không thể biết hết nội tình sâu xa. Nhưng quan sát và phỏng đoán theo kinh nghiệm, tôi thấy đây đơn thuần là công cụ kinh tế và pháp lý thôi, chứ không phải vì ghét bỏ hay trừng phạt chính trị gì cả.
Anh vi phạm luật chơi, vi phạm những nguyên tắc tối thiểu thì họ dùng chế tài. Có thể họ thấy mình đang tiếp tay cho hàng lậu, hoặc trung chuyển hàng hóa nhập nhèm xuất xứ từ quốc gia khác qua Việt Nam để né thuế. Khi Mỹ chứng minh được, họ phải dằn mặt và nâng thuế. Bản chất ở đây là bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ.
Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là mình có vi phạm, có kẽ hở thì họ mới có lý do để đưa vào báo cáo 301. Đừng đổ lỗi cho chính trị mà quên mất việc tự chỉnh đốn lại mình.
"Mất lợi thế cạnh tranh là đương nhiên", nếu bị vơ đũa cả nắm
Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Theo ông, việc bị nêu tên trong Báo cáo 301 sẽ tác động thế nào đến tâm lý các nhà đầu tư nước ngoài (FDI), đặc biệt là các tập đoàn công nghệ cao đang muốn dịch chuyển chuỗi cung ứng vào Việt Nam?
PGS. TS Ngô Trí Long: Nó sẽ chia làm hai phía. Những doanh nghiệp, mặt hàng không dính dáng vi phạm thì có thể họ vẫn hoạt động bình thường. Nhưng với những ngành đang bị điều tra, theo dõi thì rõ ràng ảnh hưởng rất lớn.
Tôi sợ nhất là kịch bản xấu nhất: Mỹ "vơ đũa cả nắm" áp đặt chung cho toàn bộ thị trường Việt Nam bất kể quốc tịch đầu tư hay loại hình doanh nghiệp. Nếu điều đó xảy ra, nguy cơ rút vốn đầu tư hoặc hủy bỏ các dự án tương lai là hiện hữu. Khi đó, đương nhiên chúng ta mất lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trong khu vực. Anh nào xung quanh không bị thuế hoặc thuế thấp hơn, họ sẽ hút hết đơn hàng. Chúng ta sẽ rơi vào thế cực kỳ khó khăn nếu không chứng minh được sự minh bạch của mình.
Đối với các doanh nghiệp trong nước vốn quen với "chi phí thấp" từ việc sử dụng phần mềm hoặc quy trình không bản quyền, họ cần chuẩn bị bộ đệm tài chính thế nào để thích nghi với các yêu cầu từ phía Mỹ?
PGS. TS Ngô Trí Long: Sẽ buộc phải thích nghi thôi. Thích nghi bằng cách thay đổi, chấp nhận trả chi phí để mua bản quyền bài bản. Hiện nay, từ cá nhân đến công ty lớn, tình trạng dùng phần mềm "trôi nổi" vẫn rất phổ biến. Thậm chí có những công ty hàng trăm máy tính, toàn dùng hàng lậu, họ nhắc nhở mãi nhưng mình cứ "qua được là qua", không thực sự tuân thủ.
Chúng ta phải thấy rằng: Dùng bản quyền tuy tăng chi phí trước mắt, nhưng nó an toàn, hiệu quả và chất lượng hơn. Nó giúp sản phẩm của mình có giá trị hơn, dễ tiêu thụ và xuất khẩu hơn. Đây là cái giá xứng đáng để trở nên chuyên nghiệp. Lộ trình chuyển đổi này có thể mất 3-5 năm để "hòm hòm", nhưng nếu không bắt đầu ngay từ bây giờ thì chúng ta sẽ mãi bị kẹt trong cái danh sách báo cáo 301 đó.
Cần thay đổi nguyên tắc thực thi pháp luật từ gốc
Trong bối cảnh hàng giả, hàng nhái vẫn tràn lan trên các sàn thương mại điện tử, ông nhìn nhận thế nào về trách nhiệm của cơ quan quản lý để bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính trước các cáo buộc từ quốc tế?
PGS. TS Ngô Trí Long: Trong nước mình là điển hình của việc ăn cắp bản quyền, thương hiệu. Giờ gần như người dân không thể tin tưởng vào mặt hàng nào vì thật giả lẫn lộn, dù có đủ giấy tờ tiêu chuẩn. Nếu cộng đồng doanh nghiệp, từ tiểu thương đến tập đoàn lớn không làm ăn tử tế thì rất khó.
Ở đây có trách nhiệm của ba phía: Một là ông sản xuất kinh doanh (chiếm 80-90%), hai là nhà nước, ba là người tiêu dùng. Nhà nước không thể làm hết mọi việc nhưng nhà nước phải thay đổi quan điểm làm luật. Cơ quan chức năng thực tế "biết hết vi phạm" nhưng năng lực và tiêu cực còn đó.
Phải dựa vào dân, dựa vào công nghệ tố giác mới quản lý xuể. Chúng ta đang đi nhầm đường khi cứ loanh quanh sửa điều khoản luật cho chặt chẽ, trong khi cái cần sửa là "nguyên tắc tiếp cận". Luật pháp phải thực tế, hợp lý thì người dân mới tuân thủ được.
Để tránh một cuộc chiến thuế quan từ báo cáo 301, ông có đề xuất gì về chiến lược đàm phán và các biện pháp chế tài mạnh mẽ hơn trong thời gian tới?
PGS. TS Ngô Trí Long: Cấp cao nhất phải vào cuộc ngoại giao trực tiếp. Đồng thời, phải chấn chỉnh cực kỳ mạnh mẽ các bộ ngành và khâu thực thi. Luật Sở hữu trí tuệ đã có, nhưng khâu triển khai vẫn là yếu kém nhất.
Chúng ta cần thay đổi tư duy: Đừng chỉ lo tăng mức phạt cho nặng, mà phải phát hiện kịp thời và xử lý công bằng. Đặc biệt, không được hình sự hóa các quan hệ kinh tế một cách máy móc. Người ta làm vì cái chung, có sơ suất nhưng không tham ô tư lợi thì phải tạo cơ chế bảo vệ, nếu không ai dám làm nữa.
Một mặt phải xử lý nghiêm những kẻ cố tình vi phạm để làm hài lòng đối tác, mặt khác phải tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế để doanh nghiệp yên tâm kinh doanh tử tế. Chỉ có sự minh bạch từ gốc mới giúp Việt Nam thoát khỏi danh sách của báo cáo 301 một cách bền vững.