Phát triển điện khí LNG trong bài toán an ninh năng lượng và chuyển đổi xanh như thế nào?
Theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025 – 2035, cả nước sẽ có 22 dự án điện khí LNG được xây dựng, đưa vào vận hành. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, tài chính, thị trường điện; vấn đề kết nối hài hòa, linh hoạt giữa nguồn điện khí LNG chạy nền phù hợp với việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo.
Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số
Ngày 14/8, Bộ Công Thương phối hợp với UBND TP. Đà Nẵng tổ chức hội thảo “Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số”.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu: “Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 – 2020 từ 10%/năm trở lên”.
Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nêu rõ: “Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045, công tác bảo đảm an ninh năng lượng có vai trò rất quan trọng, năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.

Đối với điện khí LNG, Nghị quyết số 70-NQ/TW xác định mục tiêu đến năm 2030 phát triển cơ sở đầy đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) theo nhu cầu cấp cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; hình thành các trung tâm năng lượng tập trung khí LNG hài hòa các vùng miền.
Theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025 – 2035, cả nước sẽ có 22 dự án điện khí LNG được xây dựng, đưa vào vận hành. Riêng trong giai đoạn từ nay đến 2030 sẽ có 15 dự án triển khai, đưa vào vận hành thương mại với tổng công suất 22.524 MW.
Đến nay, dự án nhà máy LNG nhiệt điện Nhơn Trạch 3, 4 đã đi vào vận hành thương mại, đóng góp đáng kể cho lưới điện quốc gia cả về nguồn điện và đảm bảo tính ổn định của hệ thống điện.
Theo PGS. TS Trần Đình Thiên – nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhu cầu điện ở Đông Nam Á đang tăng nhanh gấp 2 lần tổng nhu cầu năng lượng 10 năm tới, Việt Nam tăng còn ấn tượng hơn khi tích hợp mục tiêu GDP và yêu cầu chuyển dịch sang các ngành công nghệ cao, tiêu thụ điện lớn. Khi nhu cầu năng lượng tái tạo tăng, điện than giảm thì điện LNG là giải pháp tối ưu chiến lược.

Theo ông, đến năm 2026, đầu tư năng lượng toàn cầu là 3.400 tỉ USD, với sự đổi ngôi vĩ mô khiến luật chơi thay đổi hoàn toàn. Dòng vốn khổng lồ đổ vào năng lượng tái tạo bứt tốc, bỏ xa các "đế vương" truyền thống như dầu mỏ, khí đốt.
Nếu như năm 2015, dầu mỏ bá chủ tuyệt đối thì năm 2026, năng lượng tái tạo vọt lên dẫn đầu với mức đầu tư hơn 694 tỉ USD, kéo theo sự gia tăng mạnh hạ tầng lưới điện (Grids) và công nghệ lưu trữ (Storage).
Do đó, 3 giá trị thực của LNG trong giai đoạn chuyển tiếp từ năng lượng truyền thống sang năng lượng xanh là: Bổ sung nguồn công suất chắc chắn khi khí trong nước suy giảm; tua-bin khí điều chỉnh công suất tương đối nhanh, nên sẽ hỗ trợ hệ thống hấp thụ điện gió và điện mặt trời; đồng thời vòng đời phát thải của LNG thấp hơn than (theo IEA thấp hơn khoảng 35%).
Nhiều thách thức
PGS. TS Trần Đình Thiên chỉ ra rằng nghịch lý kinh tế lớn nhất của điện LNG nằm ở bài toán kinh tế. Trong đó, nhà máy điện có chi phí cố định rất cao, trong khi chi phí biên phụ thuộc vào giá nhiên liệu nhập khẩu; ngân hàng chỉ cho vay khi nhìn thấy dòng tiền dài hạn đủ chắc chắn.
Theo ông Thiên, trong một hệ thống ngày càng nhiều điện gió và điện mặt trời được huy động trước, điện khí LNG có thể chỉ chạy vào giờ cao điểm hoặc khi nguồn tái tạo suy giảm. Trong khi đó, số giờ vận hành co lại trong khi chi phí cố định thì không.

“Nếu thị trường chỉ trả tiền theo số kWh phát ra, nguồn giữ vai trò bảo đảm sẽ không thu hồi đủ chi phí cố định – đúng vấn đề “thiếu hụt doanh thu” mà lý thuyết thị trường điện đã chỉ ra. Nhưng thừa nhận “thiếu hụt doanh thu” không có nghĩa là bao tiêu sản lượng vô điều kiện”, PGS.TS Trần Đình Thiên nói thêm.
Ông cũng cảnh báo, một cơ chế công suất được thiết kế tồi sẽ mua thừa công suất và xã hội hoá rủi ro đầu tư, tức là chuyển rủi ro kinh doanh của nhà đầu tư vào hóa đơn tiền điện của toàn xã hội.
Do đó, chính sách đúng phải tách bạch hai khoản thanh toán: trả cho công suất sẵn sàng và cho điện năng thực phát; đồng thời mở cửa cho lưu trữ, điều chỉnh phụ tải và liên kết lưới cùng cạnh tranh cung cấp dịch vụ bảo đảm.
Ngoài ra, quy mô và năng lực thực thi cũng là một thách thức. Theo đó, trong mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất nguồn dự kiến đáp ứng nhu cầu toàn hệ thống từ 183.291 – 236.363 MW, trong đó điện LNG 22.524 MW, chiếm khoảng 9,5–12,3%.
Tuy nhiên, 22.524 MW là công suất thiết kế ghi trong quy hoạch, chưa phải công suất đã có quyết định đầu tư cuối cùng, chưa phải công suất khả dụng lúc hệ thống cần, cũng chưa phải sản lượng chắc chắn được huy động với nguồn LNG được bảo đảm. Giữa những trạng thái đó là toàn bộ khoảng cách giữa quy hoạch và an ninh năng lượng.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long - Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, điện khí LNG đã có trong quy hoạch. Nhưng từ quy hoạch đến một nhà máy thực sự vận hành, phát được điện với giá hợp lý là một khoảng cách rất lớn.
Muốn phát triển LNG, phải tháo gỡ đồng thời 2 nút thắt quan trọng là vốn và thị trường. Theo đó, dự án cần vốn rất lớn và thu hồi vốn trong thời gian dài; chưa rõ giá điện, sản lượng, tỷ giá; chưa rõ ai chịu rủi ro khi có biến động. Những vướng mắc này khiến ngân hàng khó cho vay, nhà đầu tư khó quyết định.
Trong khi đó, về mặt thị trường, giá LNG nhập khẩu biến động mạnh; cách mua LNG và tính giá điện chưa thật rõ. Đồng thời, việc huy động nhà máy cần minh bạch; kho cảng, đường ống phải tiếp cận công bằng. Nếu thiếu minh bạch, chi phí cao có thể chuyển sang người dùng điện.
Giải pháp để điện khí LNG phát triển bền vững
Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, để điện khí LNG phát triển bền vững, cần phải định hướng chính sách chuyển từ “giải cứu dự án” sang “mua đúng năng lực hệ thống”.
Ông kiến nghị triển khai 6 việc cụ thể gồm: Thẩm định lại toàn bộ 22.524 MW theo tiêu chí nhu cầu của hệ thống, dứt khoát từ bỏ nguyên tắc bất thành văn “đã vào quy hoạch thì phải làm”.
Thứ hai, phải phân vai trước khi phân tiền. Dự án cung cấp điện năng thường xuyên cần hợp đồng mua bán điện dài hạn; dự án giữ vai trò bảo đảm công suất đỉnh cần được trả cho công suất và độ sẵn sàng; dự án làm nhiệm vụ cân bằng hệ thống cần trả cho dịch vụ phụ trợ.

PGS. TS Trần Đình Thiên cũng đề xuất phát triển hai hoặc ba trung tâm LNG dùng chung theo trục Bắc – Trung – Nam, thay mô hình mỗi nhà máy một cảng, một kho riêng.
Đồng thời, xây dựng danh mục mua LNG theo tư duy quản trị danh mục đầu tư: kết hợp hợp đồng dài hạn, trung hạn và mua giao ngay; đa dạng hóa theo quốc gia cung cấp, chỉ số giá và tuyến vận tải; áp chuẩn phát thải mê-tan đối với nhà cung cấp.
Thứ năm, củng cố nền tảng tài chính của ngành điện và cung cấp biểu giá. Giá điện cần phản ánh chi phí hợp lý và phát tín hiệu giá theo thời điểm sử dụng.
Cuối cùng, không tuyệt đối hóa lời hứa “sẵn sàng dùng hydro”. Lời hứa ấy phải được lượng hóa: tỷ lệ phối trộn khả thi, hạng mục phải thay thế, chi phí chuyển đổi, nguồn hydro và mốc công nghệ đi kèm.

Trong khi đó, PGS.TS Ngô Trí Long kiến nghị 3 trọng tâm để dự án LNG huy động được vốn nhưng không chuyển toàn bộ rủi ro sang nhà nước và người dân gồm: PPA đủ điều kiện vay vốn, chia sẻ rủi ro có nguyên tắc, đa dạng hóa nguồn vốn.
Về cơ chế thị trường, ông cũng kiến nghị nhà nước không can thiệp vào từng giao dịch, nhưng phải giữ luật chơi công bằng và kiểm soát quyền lực thị trường. Theo đó, giai đoạn đầu cần PPA/hợp đồng dài hạn để tạo dòng tiền trả nợ; khi dự án ổn định, tăng dần tỷ trọng cạnh tranh. Đa dạng nguồn mua LNG, kết hợp mua dài hạn và mua giao ngay; giá, phí và công thức điều chỉnh phải có cơ sở tham chiếu rõ ràng. Kho cảng, đường ống là hạ tầng trọng yếu; cần tránh độc quyền, hạn chế tiếp cận hoặc áp đặt chi phí bất hợp lý.
Ngoài ra, cần đồng bộ chuỗi dự án và chuyển đổi xanh từ kho cảng, đường ống, nhà máy, trạm biến áp, lưới truyền tải. Điện khí LNG chỉ thành công khi toàn bộ chuỗi đi cùng một nhịp.
“Mỗi chủ thể phải làm đúng vai trò của mình. Chính phủ cần xây dựng cơ chế tổng thể; phân bổ rủi ro rõ ràng. Cơ quan quản lý cần hoàn thiện PPA, hoàn thiện cơ chế giá, giám sát cạnh tranh minh bạch. Doanh nghiệp hạ tầng chịu trách nhiệm phát triển hạ tầng dùng chung; công khai công suất và chi phí. Nhà đầu tư phải có vốn thật, năng lực thật và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả dự án. Tóm lại, vốn-giá-kỷ luật là ba điều kiện để LNG góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững”, PGS.TS Ngô Trí Long cho hay.
Không nên mỗi địa phương một dự án LNG
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, đối với Đà Nẵng và miền Trung, cần chuyển từ tư duy “một dự án LNG” sang hạ tầng năng lượng dùng chung theo vùng.

Không nên mỗi địa phương một dự án LNG vì sẽ đầu tư phân tán; trùng lặp kho cảng, đường ống; công suất thấp, chi phí cao. Thay vào đó, cần chuyển sang hạ tầng năng lượng dùng chung theo vùng từ kho cảng LNG, đường ống, logistics, lưới điện; từ đó sẽ tối ưu công suất, chia sẻ chi phí, bảo đảm an ninh năng lượng cho cả vùng.
Các địa phương có thể phân công theo lợi thế như: Đà Nẵng tập trung vào dịch vụ, công nghệ, tài chính, điều phối. Các địa phương khác đầu tư cảng biển, nguồn điện, logistics, truyền tải.
Đà Nẵng kiến nghị thực hiện dự án điện khí LNG Hoà Ninh
Ông Nguyễn Văn Trừ - Phó giám đốc Sở Công Thương TP. Đà Nẵng cho biết: Nguồn phát điện tại chỗ của Đà Nẵng chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thực tế. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng phụ tải hơn 13%/năm đòi hỏi bức thiết việc bổ sung nguồn điện nền tại chỗ quy mô lớn.
Theo đó, Đà Nẵng đang đề xuất đưa từ danh mục dự phòng (2031-2035) sang triển khai chính thức trước 2030 đối với dự án điện khí LNG Hòa Ninh (giai đoạn 1). Dự án này có công suất 1.500 MW với tổng vốn đầu tư 1,59 tỉ USD với mục tiêu kép là bảo đảm an ninh năng lượng tại chỗ và chuyển đổi xanh giảm phát thải.
TP. Đà Nẵng đang kiến nghị đưa dự án LNG Hòa Ninh (1.500 MW) từ danh mục dự phòng sang danh mục triển khai chính thức (trước năm 2030); nâng công suất kho LNG Liên Chiểu (1-2 triệu tấn/năm) và bổ sung tuyến ống Liên Chiểu – Hòa Ninh vào quy hoạch quốc gia. Đồng thời, thực thi nhanh thủ tục lưới điện 220kV/500kV đồng bộ theo cơ chế rút gọn (Nghị quyết 253 & Nghị định 272) để sẵn sàng giải tỏa công suất.