Kinh tế

IPO startup chưa có lãi: Lối mở cho 'kỳ lân' hay bẫy rủi ro cho nhà đầu tư?

Tuyết Nhung 05/07/2026 16:00

Đề xuất cho phép startup chưa có lãi được IPO đang gây tranh luận khi sửa đổi Luật Chứng khoán. Trong khi cơ quan quản lý lo ngại về một bẫy rủi ro chực chờ đẩy về phía nhà đầu tư cá nhân, giới công nghệ lại coi đây là lối mở sinh tồn để giữ chân các "kì lân" nội địa.

Đề xuất IPO cho startup chưa có lãi

Trong góp ý hồ sơ dự án Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất điều chỉnh quy định doanh nghiệp phải có lãi 2 năm liên tục trước khi chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) bằng các tiêu chí phù hợp.

Bởi lẽ, đặc thù sản xuất kinh doanh của nhóm kinh tế số hoàn toàn trái ngược với mô hình truyền thống. Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra rằng, các startup công nghệ thường phải trải qua từ 3 đến 5 năm đầu tiên "đốt tiền" để nghiên cứu phát triển (R&D), thử nghiệm công nghệ và chiếm lĩnh thị phần trước khi nghĩ đến điểm hòa vốn.

Nếu tiếp tục áp dụng bộ lọc "phải có lãi", các doanh nghiệp công nghệ tiềm năng nhất của Việt Nam sẽ buộc phải chọn phương án "lật cánh", chuyển dịch pháp nhân sang Singapore hoặc các nước trong khu vực để IPO trên các sàn quốc tế. Điều này dẫn tới hệ lụy "chảy máu" cả doanh nghiệp lẫn dòng vốn ngoại.

40f9_lol(1).jpg
Đề xuất cho phép startup chưa có lãi được IPO đang gây tranh luận khi sửa đổi Luật Chứng khoán. Ảnh: Internet.

Ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ tạo nên những tranh luận trái chiều, một bên muốn mở toang cánh cửa vốn để nuôi dưỡng "kỳ lân", một bên thận trọng canh giữ rào cản để bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Nếu không dùng "lợi nhuận ròng", thị trường cần những thước đo nào đủ uy tín để chứng minh một startup đang chi tiêu khoa học chứ không phải đang dựng lên một mô hình lừa đảo?

Các chuyên gia tài chính quốc tế thường nhìn vào một bộ khung chỉ số quản trị thay thế của nền kinh tế số dưới đây để thẩm định sức khỏe của một doanh nghiệp chưa có lãi:

Chỉ sốÝ nghĩa cốt lõiCách chứng minh "Đốt tiền thông minh"
ARR (Annual Recurring Revenue)Doanh thu định kì hàng nămChứng minh doanh nghiệp có nguồn thu ổn định, tăng trưởng bền vững dựa trên lượng người dùng trung thành (phổ biến ở mô hình SaaS/Đăng ký định kì).
NDR (Net Dollar Retention)Tỉ lệ giữ chân khách hàng bằng tiềnNếu NDR lớn hơn 100%, nghĩa là nguồn thu từ nhóm khách hàng cũ liên tục tăng lên, bù đắp được chi phí bỏ ra để tìm kiếm khách hàng mới.
R&D-to-Revenue RatioTỉ lệ chi cho R&D trên doanh thuKhẳng định dòng tiền đang đổ vào tài sản trí tuệ và công nghệ cốt lõi, thay vì chỉ ném vào các chiến dịch khuyến mãi, cắt lỗ để "vắt" số liệu ảo.
LTV / CAC RatioGiá trị trọn đời / Chi phí thu hút khách hàngChỉ số này lớn hơn 3.0 cho thấy hiệu quả vận hành tốt; startup chi tiền để mua người dùng nhưng dòng tiền thu lại từ họ hoàn toàn vượt trội.

Lối mở sinh tồn hay chiếc bẫy tinh vi?

Để có góc nhìn đa chiều và thực tế hơn về việc đưa các chỉ số này vào áp dụng tại Việt Nam, trao đổi với Một Thế Giới, TS kinh tế Nguyễn Thanh Mai (Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên gia tài chính có nhiều năm kinh nghiệm tại thị trường Việt Nam, phân tích: Bản chất của đầu tư startup là đầu tư mạo hiểm.

Ở các thị trường phát triển, việc tài trợ cho các doanh nghiệp chưa có lãi là cuộc chơi riêng của các quỹ đầu tư mạo hiểm hay các nhà đầu tư thiên thần, những người có túi tiền sâu, khẩu vị rủi ro cực cao và có năng lực phân tích kĩ trị.

"Nếu chúng ta vội vã hạ chuẩn để cho phép các doanh nghiệp này IPO rộng rãi trên thị trường đại chúng, rủi ro lớn nhất chính là chúng ta đang chuyển giao 'hòn than nóng' từ các quỹ chuyên nghiệp sang vai của những nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ, nhóm đối tượng chiếm tới hơn 90% thanh khoản tại Việt Nam nhưng lại thiếu hụt công cụ phòng vệ và năng lực thẩm định công nghệ", TS Mai cho hay.

Trước lập luận cho rằng có thể dùng các chỉ số như ARR, NDR hay tỉ lệ chi cho R&D để lọc dự án tốt, vị chuyên gia này bày tỏ sự hoài nghi về tính khả thi trong ngắn hạn.

Các chỉ số như ARR hay NDR rất phổ biến tại sàn NASDAQ (Mỹ), nhưng để thẩm định chúng cần một đội ngũ kiểm toán viên chuyên sâu về công nghệ và hệ thống giám sát vô cùng nghiêm ngặt.

Tại Việt Nam, ngay cả các báo cáo tài chính truyền thống dựa trên chuẩn mực kế toán chuẩn chỉnh đôi khi còn xảy ra tình trạng xé rào, thao túng giá hay xào nấu số liệu.

Khi hạ chuẩn về lợi nhuận, cơ quan quản lí lấy gì để đảm bảo các startup không tạo ra các chỉ số ảo về lượng người dùng, hay nâng khống chi phí R&D để hợp thức hóa việc rút ruột dòng tiền? Hệ thống quản trị và kiểm toán của chúng ta hiện nay chưa đủ độ chín để giám sát các tài sản vô hình này.

Nới lỏng điều kiện IPO không có nghĩa là buông lỏng quản lí, mà là thay đổi tư duy quản trị từ nhìn vào lợi nhuận đã qua sang đánh giá tiềm năng tăng trưởng và tính minh bạch.

Để đề xuất này đi vào thực tế mà không để lại hệ lụy, việc khoanh vùng đối tượng tham gia và thiết lập một bộ tiêu chí tài chính chuẩn hóa cho kinh tế số là hai điều kiện tiên quyết không thể tách rời.

Tuyết Nhung